“Bình Ngô Đại Cáo” – Thiên Cổ Hùng Văn Và Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Thứ Hai Của Dân Tộc Đại Việt
Phạm Ngọc Ly
“Bình Ngô đại cáo” là một trong những tác phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc và văn học Việt Nam. Không chỉ là một áng văn chính luận xuất sắc của Nguyễn Trãi, tác phẩm còn được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc Việt Nam, tiếp nối “Nam quốc sơn hà” và sau này được kế thừa, phát triển trong “Tuyên ngôn Độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm ra đời vào một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt: cuộc kháng chiến chống quân Minh kéo dài mười năm của nghĩa quân Lam Sơn đã đi đến thắng lợi hoàn toàn, đất nước thoát khỏi ách đô hộ và bước vào một thời kỳ độc lập, tự chủ mới.
“Bình Ngô đại cáo” do Nguyễn Trãi soạn thảo, viết bằng chữ Hán, theo thể cáo – một thể văn chính luận cổ thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh sử dụng để công bố với toàn dân những sự kiện trọng đại, những chủ trương hoặc những thành quả có ý nghĩa đối với quốc gia. Nguyễn Trãi viết tác phẩm theo lệnh của Lê Lợi, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và sau đó trở thành vị vua khai sáng triều Lê. Tác phẩm được hoàn thành vào đầu năm 1428, sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh giành thắng lợi. Nội dung bài cáo vừa tổng kết quá trình chiến đấu gian khổ của quân dân Lam Sơn, vừa tố cáo những tội ác của quân Minh, khẳng định cơ sở chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đồng thời tuyên bố sự phục hồi của nền độc lập và mở ra thời kỳ thái bình cho đất nước.
1. Bối Cảnh Lịch Sử Và Con Đường Dẫn Đến Thắng Lợi Lam Sơn
Để hiểu đầy đủ hoàn cảnh ra đời của “Bình Ngô đại cáo”, cần đặt tác phẩm trong bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XV. Năm 1407, sau khi nhà Hồ thất bại trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, nước ta rơi vào ách đô hộ của nhà Minh. Chính quyền Minh tiến hành nhiều chính sách cai trị hà khắc, bóc lột nhân dân, vơ vét tài nguyên, áp đặt các chính sách đồng hóa và tìm cách xóa bỏ những giá trị văn hóa, chính trị của Đại Việt. Đời sống nhân dân vì vậy rơi vào tình trạng vô cùng khốn khổ. Chính trong hoàn cảnh đó, nhiều cuộc khởi nghĩa chống quân Minh đã diễn ra ở nhiều địa phương, nhưng phần lớn đều lần lượt bị đàn áp.
Năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa, mở đầu cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn kéo dài mười năm. Từ một lực lượng ban đầu còn nhỏ yếu, nghĩa quân từng bước xây dựng lực lượng, mở rộng địa bàn hoạt động và nhận được sự ủng hộ ngày càng lớn của nhân dân. Trong quá trình lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, Lê Lợi đã nhận được sự giúp sức của nhiều tướng lĩnh, trí thức và nhân tài, trong đó có Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi tham gia vào sự nghiệp Lam Sơn và đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định đường lối, xây dựng chiến lược cũng như soạn thảo các thư từ, văn kiện nhằm vận động nhân dân và tác động vào tinh thần quân Minh. Ông là người có tư tưởng chính trị sâu sắc, đặc biệt đề cao vai trò của nhân dân và coi việc cứu dân, đem lại cuộc sống yên ổn cho nhân dân là mục tiêu của cuộc chiến tranh chính nghĩa. Tư tưởng ấy sau này được thể hiện tập trung trong “Bình Ngô đại cáo” qua câu mở đầu nổi tiếng: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Sau nhiều năm chiến đấu gian khổ, nghĩa quân Lam Sơn từng bước chuyển từ thế phòng ngự sang thế chủ động tiến công. Đặc biệt, từ năm 1426, nghĩa quân giành được nhiều thắng lợi quan trọng, mở rộng quyền kiểm soát và tiến ra Bắc. Những chiến thắng lớn như Tốt Động – Chúc Động đã làm thay đổi căn bản cục diện chiến tranh. Quân Minh ngày càng rơi vào thế bị động, nhiều thành trì bị cô lập, lực lượng quân Minh tại Đông Quan bị bao vây và đứng trước nguy cơ thất bại.
Bước sang năm 1427, trước tình thế nguy cấp của quân Minh ở Đại Việt, nhà Minh quyết định đưa quân viện binh sang cứu nguy. Hai đạo viện binh lớn do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy được điều động từ Trung Quốc tiến vào nước ta. Tuy nhiên, quân Lam Sơn đã chủ động chuẩn bị lực lượng và tổ chức đánh chặn hiệu quả:
Đạo quân của Liễu Thăng: Bị phục kích và đánh bại hoàn toàn trong chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang. Liễu Thăng tử trận tại Mã Yên, các tướng lĩnh như Lương Minh, Lý Khánh cũng lần lượt thiệt mạng.
Đạo quân của Mộc Thạnh: Khi nghe tin Liễu Thăng thất bại đã hoảng loạn và vội vã rút chạy về nước.
Những thất bại liên tiếp của hai đạo viện binh khiến quân Minh tại Đông Quan hoàn toàn mất chỗ dựa. Vương Thông buộc phải chấp nhận đàm phán và rút quân. Sau mười năm chiến đấu, nghĩa quân Lam Sơn đã giành thắng lợi quyết định. Đặc biệt, sau khi chiến thắng, Lê Lợi không chủ trương tiêu diệt toàn bộ quân địch mà thực hiện chính sách nhân đạo, cấp phương tiện và lương thực để quân Minh về nước an toàn, thể hiện trọn vẹn tinh thần "mở đường hiếu sinh".
2. Giá Trị Tư Tưởng Và Nội Dung Cốt Lõi Của Tác Phẩm
Ngay từ phần mở đầu, Nguyễn Trãi đã xác lập cơ sở tư tưởng cho toàn bộ tác phẩm bằng triết lý nhân nghĩa gắn liền với thực tiễn bảo vệ nhân dân:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.”
Tiếp nối truyền thống từ Nam quốc sơn hà, tác giả dõng dạc khẳng định chủ quyền độc lập và nền văn hiến lâu đời của quốc gia Đại Việt:
“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác...”
Phần tiếp theo của bài cáo là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác tày trời của giặc Minh, từ việc tàn sát dã man đồng bào ta cho đến việc vơ vét tài nguyên, hủy hoại môi trường sống: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.
Vượt qua những gian khổ buổi đầu tại núi rừng Lam Sơn với cảnh “lực lượng còn thiếu thốn, tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu”, nghĩa quân dưới sự lãnh đạo tài tình của Lê Lợi và tư duy quân sự sắc bén đã từng bước vươn lên, tạo nên những chiến thắng lừng lẫy tại Bồ Đằng, Trà Lân, Tốt Động – Chúc Động, Chi Lăng và Xương Giang.
3. Toàn Văn “Bình Ngô Đại Cáo” (Nguyên Tác Và Bản Dịch Thơ)
Nguyên tác
代天行化皇上若曰。
蓋聞:
仁義之舉,要在安民,
弔伐之師莫先去暴。
惟,我大越之國,
實為文獻之邦。
山川之封域既殊,
南北之風俗亦異。
自趙丁李陳之肇造我國,
與漢唐宋元而各帝一方。
雖強弱時有不同
而豪傑世未常乏。
故劉龔貪功以取敗,
而趙禼好大以促亡。
唆都既擒於鹹子關,
烏馬又殪於白藤海。
嵇諸往古,
厥有明徵。
頃因胡政之煩苛。
至使人心之怨叛。
狂明伺隙,因以毒我民;
惡黨懷奸,竟以賣我國。
焮蒼生於虐焰,
陷赤子於禍坑。
欺天罔民,詭計蓋千萬狀;
連兵結釁稔惡殆二十年。
敗義傷仁,乾坤幾乎欲息;
重科厚歛,山澤靡有孑遺。
開金場塞冒嵐瘴而斧山淘沙,
採明珠則觸蛟龍而緪腰汆海。
擾民設玄鹿之陷阱,
殄物織翠禽之網羅。
昆虫草木皆不得以遂其生,
鰥寡顛連俱不獲以安其所。
浚生靈之血以潤桀黠之吻牙;
極土木之功以崇公私之廨宇。
州里之征徭重困,
閭閻之杼柚皆空。
決東海之水不足以濯其污,
罄南山之竹不足以書其惡。
神民之所共憤,
天地之所不容。
予:
奮跡藍山,
棲身荒野。
念世讎豈可共戴,
誓逆賊難與俱生。
痛心疾首者垂十餘年,
嘗膽臥薪者蓋非一日。
發憤忘食,每研覃韜略之書,
即古驗今,細推究興亡之理。
圖回之志,
寤寐不忘。
當義旗初起之時,
正賊勢方張之日。
奈以:
人才秋葉,
俊傑晨星。
奔走先後者既乏其人,
謀謨帷幄者又寡其助。
特以救民之念,每鬱鬱而欲東;
故於待賢之車,常汲汲已虛左。
然其:
得人之效茫若望洋,
由己之誠甚於拯溺。
憤兇徒之未滅,
念國步之遭迍。
靈山之食盡兼旬,
瑰縣之眾無一旅。
蓋天欲困我以降厥任,
故與益勵志以濟于難。
揭竿為旗,氓隸之徒四集
投醪饗士,父子之兵一心。
以弱制彊,或攻人之不備;
以寡敵眾常設伏以出奇。
卒能:
以大義而勝兇殘,
以至仁而易彊暴。
蒲藤之霆驅電掣,
茶麟之竹破灰飛。
士氣以之益增,
軍聲以之大振。
陳智山壽聞風而;褫魄,
李安方政假息以偷生。
乘勝長驅,西京既為我有;
選兵進取,東都盡復舊疆。
寧橋之血成川,流腥萬里;
窣洞之屍積野,遺臭千年。
陳洽賊之腹心,既梟其首;
李亮賊之奸蠹,又暴厥屍。
王通理亂而焚者益焚,
馬瑛救鬥而怒者益怒。
彼智窮而力盡,束手待亡;
我謀伐而心攻,不戰自屈。
謂彼必易心而改慮,
豈意復作孽以速辜。
執一己之見以嫁禍於他人,
貪一時之功以貽笑於天下。
遂靈宣德之狡童,黷兵無厭;
仍命晟昇之懦將,以油救焚。
丁未九月柳昇遂引兵猶邱溫而進,
本年十月木晟又分途自雲南而來。
予前既選兵塞險以摧其鋒,
予後再調兵截路以斷其食。
本月十八日柳昇為我軍所攻,計墜於支稜之野;
本月二十日柳昇又為我軍所敗,身死於馬鞍之山。
二十五日保定伯梁銘陣陷而喪軀,
二十八日尚書李慶計窮而刎首。
我遂迎刃而解,
彼自倒戈相攻。
繼而四面添兵以包圍,
期以十月中旬而殄滅。
爰選貔貅之士,
申命爪牙之臣。
飲象而河水乾,
磨刀而山石鈌。
一鼓而鯨刳鱷斷,
再鼓而鳥散麇驚。
決潰蟻於崩堤,
振剛風於稿葉。
都督崔聚膝行而送款,
尚書黃福面縛以就擒。
僵屍塞諒江諒山之途,
戰血赤昌江平灘之水。
風雲為之變色,
日月慘以無光。
其雲南兵為我軍所扼於梨花,自恫疑虛喝而先以破腑;
其沐晟眾聞昇軍所敗於芹站,遂躪藉奔潰而僅得脫身。
冷溝之血杵漂,江水為之嗚咽;
丹舍之屍山積,野草為之殷紅。
兩路救兵既不旋踵而俱敗,
各城窮寇亦將解甲以出降。
賊首成擒,彼既掉餓虎乞憐之尾;
神武不殺,予亦體上帝孝生之心。
參將方政,內官馬騏,先給艦五百餘艘,既渡海而猶且魂飛魄散;
總兵王通,參政馬瑛,又給馬數千餘匹,已還國而益自股慄心驚。
彼既畏死貪生,而修好有誠;
予以全軍為上,而欲民之得息。
非惟謀計之極其深遠,
蓋亦古今之所未見聞。
社稷以之奠安,
山川以之改觀。
乾坤既否而復泰,
日月既晦而復明。
于以開萬世太平之基,
于以雪天地無窮之恥。
是由天地祖宗之靈有,
以默相陰佑而致然也!
於戲!
一戎大定,
迄成無兢之功;
四海永清,
誕布維新之誥。
播告遐邇,
Bản dịch thơ của Ngô Tất Tố
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cỏi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi.
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim trả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?
Ta đây:
Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cỏi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi!
Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.
4. Ý Nghĩa Lịch Sử Và Tầm Vóc Thời Đại
“Bình Ngô đại cáo” khép lại bằng khúc tráng ca khải hoàn và tuyên bố về một kỷ nguyên hòa bình, độc lập mới của đất nước: “Xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới”.
Về mặt lịch sử, tác phẩm đánh dấu thời điểm mốc son chói lọi khi Đại Việt giành lại hoàn toàn chủ quyền sau mười năm kháng chiến gian khổ. Về mặt văn học, tác phẩm là sự kết hợp đỉnh cao giữa tư duy chính luận sắc bén và cảm hứng nghệ thuật dạt dào, xứng đáng là một trong những áng “thiên cổ hùng văn” tiêu biểu nhất trong kho tàng văn hóa dân tộc.



