Khác

BÌNH TÂY ĐẠI NGUYÊN SOÁI - TRƯƠNG ĐỊNH

Giữa buổi nước nhà lâm nguy, khi giặc Pháp từng bước xâm chiếm Nam Kỳ, có một người anh hùng đã đứng lên, lấy lòng dân làm thành lũy, lấy chí lớn làm vũ khí, quyết giữ non sông dù phải đánh đổi bằng chính mạng sống của mình. Người ấy là Trương Định – vị chủ soái bất khuất của phong trào kháng Pháp ở Nam Kỳ.

Quảng Ngãi27/10/2026Xã Thống Nhất (Đoàn xã Thống Nhất)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
BÌNH TÂY ĐẠI NGUYÊN SOÁI - TRƯƠNG ĐỊNH

Trương Định sinh năm 1820 tại Quảng Ngãi. Thuở nhỏ, ông theo học chữ Nho, nhưng sớm bộc lộ niềm say mê võ nghệ và binh thư. Năm 1844, ông theo cha vào Gia Định, rồi dần gây dựng uy tín trong nhân dân bằng tài năng, lòng nghĩa hiệp và tinh thần trọng nghĩa lớn. Ông chiêu mộ dân chúng khai hoang, lập đồn điền, xây dựng lực lượng, được triều đình phong chức Quản cơ. Từ đó, người dân thân thương gọi ông là Quản Định.

Năm 1861, khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ, quân triều đình rút lui, nhiều người cho rằng thế chống Pháp đã đến hồi suy yếu. Nhưng Trương Định không chọn con đường lui bước. Ông đưa nghĩa quân về Tân Hòa – Gò Công, dựa vào địa thế sông ngòi, đầm lầy và sự che chở của nhân dân để xây dựng căn cứ kháng chiến. Từ những đồn lũy giữa vùng đất phương Nam, một ngọn lửa đấu tranh mới lại bùng lên, hun đúc ý chí chống ngoại xâm của người dân Nam Kỳ.

Dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân ngày đêm luyện tập, đào hào, dựng lũy, chuẩn bị vũ khí và lương thực. Người dân góp của, góp sức, người trai tráng cầm giáo mác lên đường, cùng nhau bảo vệ quê hương. Tân Hòa – Gò Công dần trở thành trung tâm kháng chiến vững mạnh, nơi hội tụ những con người cùng chung một ý chí: đất còn bóng giặc, lòng người còn quyết chiến; non sông chưa thể cúi đầu!

Nghĩa quân Trương Định liên tiếp tổ chức những trận tập kích, phục kích táo bạo tại Rạch Tra, Vàm Cỏ Đông, Thuộc Nhiêu cùng nhiều địa điểm khác. Bằng cách đánh linh hoạt, tận dụng địa hình và sự đồng lòng của nhân dân, nghĩa quân khiến quân Pháp nhiều phen tổn thất, buộc chúng phải tăng viện và mở những cuộc tiến công quy mô lớn. Dẫu vũ khí còn thô sơ, lực lượng có lúc chênh lệch, tinh thần chiến đấu của nghĩa quân vẫn không hề khuất phục.

Thế nhưng, giữa lúc phong trào kháng chiến đang dâng cao, triều đình Huế lại ký Hiệp ước Nhâm Tuất ngày 5-6-1862, nhượng ba tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa cho Pháp, đồng thời ra lệnh cho Trương Định giải tán nghĩa quân và nhận chức vụ mới. Trước mệnh lệnh ấy, ông đứng trước một lựa chọn nghiệt ngã: tuân theo triều đình hay tiếp tục chiến đấu theo nguyện vọng của nhân dân.

Và Trương Định đã chọn con đường của mình.

Ông không rời bỏ nghĩa quân, không quay lưng với đồng bào, càng không chấp nhận buông súng trước quân xâm lược. Được nhân dân và nghĩa sĩ đồng lòng suy tôn làm “Bình Tây Đại nguyên soái”, ông tiếp tục giương cao ngọn cờ kháng chiến, biến Tân Hòa – Gò Công thành biểu tượng của tinh thần tự chủ và lòng yêu nước bất khuất.

Từ đây, cuộc chiến không chỉ là cuộc đối đầu giữa nghĩa quân với quân Pháp, mà còn là lời khẳng định đanh thép về ý chí của một dân tộc không cam chịu mất nước. Trương Định hiểu rằng con đường phía trước đầy hiểm nguy, rằng nghĩa quân có thể phải đối mặt với những đội quân đông hơn, súng đạn mạnh hơn. Nhưng ông cũng hiểu rằng, khi lòng dân chưa nguội lạnh, ngọn lửa đấu tranh vẫn còn cơ hội cháy sáng.

Đầu năm 1863, quân Pháp huy động lực lượng lớn, mở cuộc tiến công vào căn cứ Tân Hòa – Gò Công. Nghĩa quân chiến đấu quyết liệt suốt nhiều ngày, tận dụng đầm lầy và địa thế hiểm trở để chống trả. Trước sức ép quá lớn của đối phương, Trương Định buộc phải cho lực lượng rút lui, phân tán và xây dựng lại căn cứ, chờ thời cơ tiếp tục chiến đấu. Căn cứ có thể bị uy hiếp, đội ngũ có thể phải chia xa, nhưng ý chí kháng chiến của người chủ soái vẫn không hề lay chuyển.

Sau thời gian củng cố lực lượng, Trương Định đang chuẩn bị kế hoạch trở lại thì bị quân Pháp phát hiện nơi đóng quân. Đêm 20-8-1864, lực lượng do Huỳnh Công Tấn dẫn đầu bất ngờ vây đánh. Trong trận chiến cuối cùng tại Tân Phước, Trương Định bị thương nặng. Không muốn rơi vào tay quân thù, ông đã rút gươm tự sát, khép lại cuộc đời của một người anh hùng dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp chống ngoại xâm.

Ông ngã xuống, nhưng ngọn cờ Bình Tây không vì thế mà mất đi ý nghĩa. Bởi điều Trương Định để lại không chỉ là những trận đánh hay một căn cứ kháng chiến, mà còn là tấm gương về lòng trung nghĩa, tinh thần độc lập và sự lựa chọn đứng về phía nhân dân trong giờ phút đất nước lâm nguy.

Ngày nay, tên tuổi Trương Định vẫn được nhân dân nhiều nơi tưởng nhớ qua những đền thờ, lễ giỗ và hoạt động tri ân. Hơn một thế kỷ đã trôi qua, câu chuyện về người anh hùng đất Nam Kỳ vẫn nhắc nhở các thế hệ rằng độc lập, tự do không tự nhiên mà có; đó là thành quả được gìn giữ bằng lòng yêu nước, ý chí kiên cường và sự hy sinh của biết bao người đi trước.

Trương Định có thể ngã xuống giữa vòng vây quân thù, nhưng khí phách của ông không bao giờ khuất phục. Ngọn cờ Bình Tây đã trở thành biểu tượng của một thời đấu tranh oanh liệt, nhắc mỗi người Việt Nam hôm nay biết trân trọng non sông, giữ gìn độc lập và sống xứng đáng với những hy sinh của cha ông.

Bởi khi Tổ quốc cần, lòng yêu nước có thể biến những con người bình dị thành anh hùng; và dù thân xác có thể nằm xuống, tinh thần bất khuất vẫn sống mãi cùng non sông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn