"Bình Tây Đại nguyên soái" Trương Định: Sắc son nghĩa khí, lẫm liệt nghìn thu
"Bình Tây Đại nguyên soái" Trương Định: Sắc son nghĩa khí, lẫm liệt nghìn thu
Trong dòng chảy oanh liệt của phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược tại Nam Kỳ nửa cuối thế kỷ XIX, Trương Định nổi lên như một biểu tượng vĩ đại của lòng yêu nước và tinh thần độc lập, tự chủ. Ông không chỉ là linh hồn, là người lãnh đạo tối cao của cuộc khởi nghĩa lan rộng khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ mà còn là bậc tiền bối có tầm nhìn chiến lược khi khởi xướng, xây dựng căn cứ địa Tân Hòa - Gò Công, chỉ huy nghĩa quân lập nên những chiến công vang dội, làm khiếp đảm quân thù.
Từ bậc nghĩa hào đồn điền đến người thủ lĩnh kháng chiến
Trương Định sinh năm 1820 tại xã Tư Cung, phủ Bình Sơn (nay là xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi). Thuở nhỏ, ông miệt mài kinh sử dưới cửa Khổng sân Trình, nhưng với chí lớn hướng về binh nghiệp, ông đã sớm chuyển sang học võ và tỏ ra vô cùng am tường binh thư đồ trận. Năm 1844, Trương Định theo cha vào Nam lập nghiệp tại Gia Định rồi kết duyên tại vùng đất Tân An.
Bước sang thập niên 1850, với bầu máu nóng và tấm lòng vì dân, ông đã tự xuất tiền của, đứng ra chiêu mộ “dân ấp, dân lân” để lập đồn điền ở vùng Gia Thuận. Nhờ công lao khai hoang và tổ chức lực lượng, ông được triều đình nhà Nguyễn phong chức Phó quản cơ, sau đó thăng lên Quản cơ. Từ đây, nhân dân trong vùng kính cẩn và thân thương gọi ông bằng cái tên: Quản Định.
Bước ngoặt lịch sử diễn ra sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ vào ngày 25-2-1861. Giữa lúc quân đội triều đình chọn giải pháp rút lui chiến lược về Biên Hòa, Quản cơ Trương Định đã đưa ra một quyết định lịch sử: Không đi theo quân triều đình mà ở lại bám đất, bám dân, chủ động đưa lực lượng của mình về vùng Tân Hòa - Gò Công để xây dựng căn cứ địa kháng chiến lâu dài.
Tầm nhìn chiến lược và căn cứ địa Tân Hòa - Gò Công
Trong mắt nhà quân sự tài ba Trương Định, Tân Hòa sở hữu những lợi thế địa chính trị vô cùng lý tưởng để tổ chức kháng chiến. Nơi đây nằm gần Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi để nghĩa quân có thể bất ngờ tiến công sào huyệt địch hoặc dễ dàng phối hợp hiệp đồng chiến đấu với các cánh quân tại Tân An, Gò Công, Mỹ Tho. Đồng thời, đây là vùng đất trù phú, đông dân, giúp nghĩa quân dễ dàng huy động lương thực và phát triển lực lượng. Đặc biệt, với hệ thống sông ngòi dày đặc, giặc Pháp chưa thể đặt chân tới, căn cứ này rất thuận tiện cho việc cơ động lực lượng và vận chuyển vũ khí.
Nhận thức rõ điều đó, Trương Định đã tổng động viên nghĩa quân và nhân dân khẩn trương đắp lũy, đào hào, dựng lên hệ thống đồn lũy kiên cố tại Tân Hòa cùng các nhánh sông xung yếu như Rạch Lá, Soài Rạp.
Tháng 12-1861, khi quân Pháp tiến đánh Biên Hòa, triều đình cử Nguyễn Túc Trưng đến phối hợp cùng Trương Định. Tuy nhiên, trái ngược với tư tưởng tiến công mãnh liệt của ông, Nguyễn Túc Trưng lại chọn lối đánh cố thủ nhu nhược. Kiên quyết không để đại cuộc bị trói buộc, Trương Định tách ra độc lập tác chiến. Ông chỉ huy nghĩa quân liên tục tiến công, giải phóng một vùng rộng lớn từ Gò Công đến Chợ Lớn. Chiến công vang dội này buộc triều đình nhà Nguyễn phải nhìn nhận và phong ông làm Phó lãnh binh tỉnh Gia Định.
Tuyệt đối trung thành với nhân dân, nhận phong Đại nguyên soái
Giữa lúc ngọn lửa kháng chiến của nhân dân Nam Kỳ đang bùng cháy dữ dội, ngày 5-6-1862, triều đình Huế ký kết Hiệp ước Nhâm Tuất, nhượng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp. Đồng thời, một lệnh bài tàn nhẫn được ban xuống: Buộc Trương Định phải ngừng bắn, giải tán nghĩa quân và điều ông đi nhận chức Lãnh binh ở tận tỉnh An Giang.
Đứng trước sự lựa chọn ngặt nghèo giữa một bên là "trung quân" một cách mù quáng và một bên là "ái quốc" bảo vệ nhân dân, Trương Định đã chọn nhân dân. Ông kiên quyết cự tuyệt lệnh bãi binh của triều đình, cũng không màng đến những lời dụ dỗ, mua chuộc của thực dân Pháp.
Thấu hiểu tấm lòng son sắt ấy, nhân dân và nghĩa sĩ khắp các vùng Nam Kỳ đã đồng lòng suy tôn ông làm chủ soái. Trong một buổi lễ trang nghiêm và xúc động, nghĩa quân đã đắp đàn làm lễ, đem tấm nhiễu điều choàng lên vai nhà yêu nước, kính cẩn tôn ông làm "Bình Tây Đại nguyên soái" để lãnh đạo nghĩa quân và nhân dân tiếp tục chống Pháp.
Thoát khỏi sự ràng buộc của triều đình, Trương Định truyền hịch hô hào quốc dân, chính thức biến Tân Hòa - Gò Công thành trung tâm kháng chiến chống Pháp mạnh mẽ nhất bấy giờ. Ông bố trí thế trận phòng thủ tam giác kiên cố với các cánh quân của Phạm Tấn Phát ở Gò Đen (Tân An), Bùi Duy Hiệu ở Cần Đước, Nguyễn Văn Trung ở Tân Thạnh, tạo thành lá chắn vững chắc bảo vệ đại bản doanh.
Những chiến công oanh liệt làm rung chuyển quân thù
Dựa vào căn cứ vững chắc, cuối năm 1862, Bình Tây Đại nguyên soái phát động một chiến dịch tiến công tổng lực trên khắp các mặt trận Biên Hòa, Gia Định và Mỹ Tho, liên tục giáng những đòn sấm sét vào quân xâm lược:
Ngày 17-12-1862: Trương Định trực tiếp chỉ huy nghĩa quân tập kích đồn Rạch Tra trên tuyến Sài Gòn - Tây Ninh, tiêu diệt tên Đồn trưởng Thourude cùng nhiều binh lính.
Ngày 18-12-1862: Vận dụng sáng tạo kinh nghiệm hỏa công của Nguyễn Trung Trực trong trận Nhật Tảo, nghĩa quân tấn công dữ dội 3 pháo hạm Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông, gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Cùng ngày, 1.200 nghĩa quân dũng cảm làm chủ đoạn đường Cây Mai - Mỹ Tho sau khi đánh tan đồn Thuộc Nhiêu.
Các trận phục kích liên tiếp: Đầu năm 1863, bằng lối đánh du kích linh hoạt, nghĩa quân liên tiếp tổ chức các trận phục kích bẻ gãy các cuộc hành quân của địch tại Thanh Mỹ, Gò Đen, Long Khê đi Cần Đước, khiến quân Pháp luôn rơi vào trạng thái hoang mang, lo sợ.
Trước sự phát triển thần tốc của nghĩa quân, Đô đốc Bonard phải khẩn cấp xin viện binh từ chính quốc, điều động hạm đội từ Trung Quốc qua và huy động cả quân Tây Ban Nha từ Philippines sang để mở cuộc càn quét đại quy mô vào căn cứ Tân Hòa - Gò Công nhằm diệt trừ bằng được người thủ lĩnh Trương Định.
Khí tiết lẫm liệt của người Anh hùng dân tộc
Ngày 25-2-1863, quân địch với ưu thế tuyệt đối về quân số và hỏa lực hiện đại nổ súng tấn công vào căn cứ. Dưới sự chỉ huy mưu trí của Trương Định, nghĩa quân đã lập kế dụ địch vào đầm lầy, kiên cường chiến đấu suốt 3 ngày đêm, đẩy lùi nhiều đợt tiến công và tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Tuy nhiên, trong thế trận bị cô lập và bao vây cô thế, để bảo toàn lực lượng, ông chủ trương rút một bộ phận nghĩa quân lên vùng Biên Hòa, Tây Ninh, còn bản thân ông cùng đại bộ phận mật niệm chuyển về xây dựng căn cứ tạm thời tại Phước Lộc (Định Tường).
Giữa lúc vị chủ soái đang âm thầm rèn gươm luyện lính, chuẩn bị kế hoạch phản công chiếm lại Gò Công, thì một bi kịch đã xảy ra. Phản tướng Huỳnh Công Tấn — kẻ từng là cấp dưới của ông nay đã hèn nhát đầu hàng giặc — đã dẫn quân Pháp bất ngờ vây đánh bản doanh của ông tại vùng Tân Phước, ven sông Soài Rạp.
Trong cuộc huyết chiến oanh liệt đêm 20-8-1864, Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định bị trúng đạn và bị thương rất nặng. Quyết giữ vững khí tiết của một bậc đại trượng phu, kiên quyết không để rơi vào tay quân thù, ông đã bình thản rút gươm tự sát, hiến dâng dòng máu nóng cho mảnh đất quê hương ở tuổi 44.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng anh linh của "Bình Tây Đại nguyên soái" Trương Định vẫn sống mãi cùng non sông đất nước. Để tri ân người anh hùng áo vải, các tỉnh Tiền Giang, Đồng Nai và Quảng Ngãi đều trang trọng lập đền thờ ông. Đặc biệt, Đền thờ Trương Định tại xã Tịnh Khê (Quảng Ngãi) đã vinh dự được xếp hạng Di tích quốc gia.
Hằng năm, những ngày giỗ, ngày lễ hội văn hóa tưởng nhớ ông tại quê nhà Quảng Ngãi và thị xã Gò Công luôn là dịp để các thế hệ con cháu soi mình vào tấm gương trung kiên, bất khuất, đời đời ghi nhớ công ơn một vị tướng "sống uy danh, chết lẫm liệt" của dân tộc Việt Nam.



