Cựu Thanh niên xung phong

Bộ đội Bình Xuyên

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, trong số các đơn vị võ trang có bộ đội Bình Xuyên. Cả nước đều biết như vậy. Nhưng nhiều người muốn biết lịch sử bộ đội Bình Xuyên như thế nào? nguồn gốc, thành phần, việc làm và công lao của họ ra sao? Đó là nhu cầu chính đáng đòi hỏi các nhà sử học, các cán bộ chiến sĩ từng là người Bình Xuyên ghi lại lịch sử của bộ đội Bình Xuyên. Cuốn sách ghi lại lịch sử bộ đội Bình Xuyên (liên chi đội 2 và 3) này là một tiếng nói đáp ứng nhu cầu ấy. Bộ đội Bình

Lai Châu24/03/2026Hồ Sơn Đài - Đỗ Tầm Chương - Hồ Khang (Sìn Hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Huyện Nhà Bè nằm ở đông nam thành phố Hồ Chí Minh, là dải đất kéo dài theo hướng bắc nam, chiều rộng 5 km và chiều dài độ 1,5 km với diện tích đất tự nhiên 13.316 ha.

Thời thuộc Pháp, Nhà Bè là một quận thuộc tỉnh Gia Định, gồm hai vùng đất thuộc hai tổng: Bình Trị Hạ (vùng đất liền gồm 9 xã )[1] và An Thịt ( vùng rừng Sác gồm 9 xã )[2].

Vùng đất liền Nhà Bè là một cù lao, bao bọc bốn chung quanh là sông, kinh rạch hình thành ranh giới giữa Nhà Bè với các địa phương sát cạnh. Phía bắc, Nhà Bè giáp Quận 4 mà dòng kinh Tẻ là đường phân giới. Phía đông bắc giáp huyện Thủ Đức, địa giới là sông Sài Gòn. Phía đông, Nhà Bè giáp huyện Long Thành (tỉnh Đồng Nai), Cần Giờ mà sông Nhà Bè là đương phân ranh. Kinh Đồng Điền (nối thông sông Nhà Bè với Rạch Dơi ) là ranh giới giữa Nhà Bè với huyện Cần Giuộc (tỉnh Long An). Rạch ông Lớn bắt dòng với kinh Cây Khô, tạo nên địa giới phía tây giữa Nhà Bè với Cần Giuộc và Quận 8. Nhà Bè nằm trên khu vực chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long độ cao so vởi mặt biển trung bình là 1,3 mét. Địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống rạch, kinh chằng chịt. Ngày ngày thủy triều lên xuống, đất đai nhiễm mặn. Thời thuộc Pháp, cư dân thưa thớt, lúc đông nhất mỗi xã cũng chỉ độ 1.000 dân. Đất đai phần lớn là hoang hóa. Trên bãi sình lầy, các loại cây ưa mặn lâu năm mọc lên xanh um tạo thành các " Vạt rừng " hoang rậm. "Vạt rừng " trải khắp lan tới ven trục lộ, tận mép các dòng sông, kinh. Thuở trước, đây là nơi cư ngụ và hành nghề của các băng nhóm trộm cướp, là nơi trú náu kín đáo cho những kẻ “bất phục tùng" chế độ. Chính thực dân Pháp cũng phải tỏ ra ngao ngán và bất lực khi đối mặt với vùng “đất nghịch" này.

Ép sát một phía của Sài Gòn, phía đông nam, mà những dòng kinh, sông và các tuyến đường bộ ngang qua nối Sài Gòn với biển cả và các tỉnh đồng hằng sông Cửu Long. Nhà Bè chiếm giữ vị trí quan trọng về kinh tế, quân sự đối với Sài Gòn và Nam Bộ. Từ đông nam rừng Sác, sông Lòng Tàu xuyên suốt rừng Sác miền Đông, lên hương tây bắc rồi hoà nhập với sông Nhà Bè, tẽ nhánh trái ăn thông với sông Sài Gòn[3] là một thương lộ quốc tế quan trọng nối cảng Sài Gòn với cửa biển Cần Giở. Trên dòng sông đó, tàu bè quốc tế có tải trọng hàng vạn tấn thường xuyên đi lại. Tuyến rạch ông Lớn - Cây Khô lại là đường vận chuyển thủy quan trọng nối Sài Gòn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Dòng kinh Tẻ cũng giữ một vai trò tương tự. Ngoài những đường thủy ra liên tỉnh lộ 15 nối Sài Gòn với Nhà Bè, hương lộ 34 nối Sài Gòn với các huyện lỵ của tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Gò Công cùng những tuyến giao thông đường bộ huyết mạch. Do điều kiện tự nhiên như đã kể trên ở Nhà Bè, thực dân Pháp, đặc biệt đế quốc Mỹ đã xây dựng nhiều cơ sở kinh tế quân sự lớn. Hàng loạt kho chứa các nguyên liệu lỏng (xăng, nhớt)... của các công ty tư bản Mỹ, Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan, nằm dọc theo sông Nhà Bè với sức chứa rất lớn đủ cung cấp cho cả chiến trường Nam Đông Dương. Quân cảng Nhà Bè nằm giữa vùng tiếp giáp hai xã Phú Mỹ và Phú Xuân là nơi Pháp rồi Mỹ chuyên dùng nhập các hàng quân sự. Một bộ phận bến kè (quai) và bến đậu của hải cảng Sài Gòn, nằm trên đất Tân Thuận với dãy kho hàng đồ sộ.

Quá trình thực dân Pháp rồi đến đế quốc Mỹ xây dựng các cơ sở kinh tế, quân sự, bến cảng và hệ thống kho tàng trên đất Nhà Bè, cũng là quá trình xuất hiện đội ngũ những người công nhân làm thuê cho các hãng tư bản thực dân. Bên cạnh đội ngũ công nhân ngày càng tăng, còn có một bộ phận đáng kể gồm những người nông dân lao động nghèo làm công có định kỳ ở các kho chứa dầu Nhà Bè, bến cảng Tân Thuận. Hàng năm, khi công việc đồng áng rỗi rang, những người nông dân nghèo kéo tới các hãng dầu Nhà Bè, bến cảng Tân Thuận tìm việc làm để rồi khi mùa tới, họ lại lũ lượt về lại xóm cũ trồng cây... quá trình đó cứ lặp đi, lặp lại đơn điệu và buồn bã như đời người dân sống trong cảnh lầm than, mất nước.

Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, như bao người dân mất nước, những người lao động Nhà Bè trải qua năm tháng đói rách, tủi nhục, bị bọn thực dân đế quốc áp bức bóc lột nặng nề. Chưa qua khỏi một thời xơ xác và cùng cực của cuộc tổng khủng hoảng những năm 1929-1933, nhân dân ta lại phải sống trong cảnh hết sức khốn cùng ngột ngạt, do phải chịu áp bức của thực dân Pháp, phát xít Nhật.

Là địa bàn có những cơ sở kinh tế, quân sự quan trọng của thực dân, đế quốc, Nhà Bè càng chịu những tác động nặng nề của tình hình đó.

Việc các nước trong Đồng Minh chống phát xít thực hiện bao vây quân sự, kinh tế phát xít Nhật ở Đông Dương khiến các tuyến đường nối thông giữa Sài Gòn với biển cả phía đông bị cắt đứt. Hàng hoá trở nên vô cùng khan hiếm. Bấy giờ, hàng vạn công nhân làm thuê trong các hãng dầu Nhà Bè, ở bến cảng Tân Thuận... bị thất nghiệp. Đời sống thường nhật vì vậy, lại càng trở nên khó khăn hơn. Nơi tập trung các kho xăng dầu lớn mà nhân dân phải thắp bằng dầu phộng, dầu mù u le lói, ốm đau, bệnh tật không tiền và không thuốc chữa trị. Công nhân và nông dân, đa phần là áo cộc tay, quần đùi tơi tả. Phụ nữ nông thôn phải dùng cả bao bố làm cái mặc, ở nhiều xã người dân bị phát xít Nhật cưỡng bức, dồn đuổi khỏi nhà cửa, đất đai, bến bãi của họ để thành lập phòng tuyến trận địa chống quân Đồng Minh có thể đổ bộ từ mặt sông Soài Rạp, Nhà Bè lên, các trận địa pháo phòng không bảo vệ quân cảng Nhà Bè, xây dựng các hầm ngầm cố thủ... Đồng thời, để đảm bảo an ninh và an toàn cho các trận địa. các tuyến phòng ngự... bọn mật thám và lực lượng cảnh binh Nhật thường xuyên tổ chức các cuộc vây ráp, truy lùng những người chống đối.

Đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của cư dân Nhà Bè do vậy cũng mang những đặc điểm khác biệt.

Đối mặt với kẻ thù, với bất công ngang trái, một số người giác ngộ sớm đi theo Đảng làm cách mạng, một số khác náu mình nơi cửa Phật, cắt tóc đi tu. Loại thứ ba không thế, họ phản ứng lại áp bức, bất công, khổ nhục bằng cách đi làm giang hồ. Đa phần trong số họ, thuở đầu vốn là những người dân nghèo khổ, trong sạch và lượng thiện. Sớm tối trên đồng ruộng hay ở bến cảng, kho dầu..., họ đã chọn con đường kéo bè, kết cánh thành các phe nhóm giang hồ hòng tự giải thoát, tự cứu mình trong cái thế giới đầy bất công nguy hiểm. Phần lớn trong số họ thoát ly sản xuất để đâm thuê, chém mướn kiếm ăn ở bến tàu, bến xe tổ chức cướp các cửa hàng, các chuyến xe khách, các chuyến ca nô... hoặc canh giữ và bảo vệ các sòng bạc, nhà chứa. Giới giang hồ gọi loại này là lục lâm thảo khấu (lục lục thường tài). Một số khác thuộc loại võ hiệp giang hồ (mã thượng giang hồ). Dẫu là “giang hồ" nhưng vẫn gắn bó với sản xuất, công việc họ giao du, kết bạn xa gần với những người đồng chí hương, làm việc nghĩa, bảo vệ người yếu thế, chăm lo việc đảm bảo an ninh xóm ấp, bất phục tùng, bất hợp tác với chính quyền thực dân, phong kiến. Bởi thế, không những họ có uy tín trong giới giang hồ mà còn được nhân dân trong vùng cảm mến.

Trong ngót mười năm, chỉ ở ba xã phía bắc Nhà Bè là Tân Thuận, Tân Quy, Phú Mỹ, hàng trăm băng nhóm giang hồ lớn, nhỏ ra đời. Mỗi băng nhóm do một hoặc vài “tay anh chị” trội nhất về võ nghệ so với “đàn em” trong nhóm đứng đầu. Sống chết phải hết lòng vì nhau, các thành viên trong băng nhóm không bao giờ được phản bội, lấy nghĩa khí, ân tình, có thuỷ có chung mà ứng xử với nhau. Đó chính là luật của giới giang hồ. Từ thuở nhóm họp ban đầu và suốt cuộc vùng vẫy, hành nghề, người thủ lãnh phải là một mẫu mực về thế ứng xử, về khả năng tổ chức các hoạt động để dắt dẫn đàn em "làm ăn " đồng thời phải thường xuyên quan tâm, củng cố và tăng cường thực lực của băng nhóm, trong đó, điều cốt tử đảm bảo cho băng nhóm tồn tại là phải bằng mọi cách có thể, thu phục và đào luyện được đàn em út tuyệt đối trung thành, đáng tin cậy, sẵn sàng tuân thủ bất cứ yêu cầu, mệnh lệnh nào của thủ lĩnh, hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào được trao phó trong mọi tình huống.

Tân Thuận là một xã ở phía đông bắc Nhà Bè, nơi có bến cảng Tân Thuận - bến cảng ngày đêm tàu bè lớn nhỏ tấp nập vào ra. Như bất cứ bến cảng nào thuở đó, gắn liền với bến cảng là sòng bạc, nhà chứa, các dịch vụ... Và cũng đi liền vởi nó là sự xuất hiện hàng chục các băng, nhóm "nhảy dù” chuyên sống bằng nghề trộm cắp hàng hoá ở các tàu ngoại quốc, ở bến bãi, kho tàng, trên các tàu thuyền, xà lan hoặc xe vận tải. Trong số đó, trội hơn là băng của Trần Văn Hoàng (Ba Hoàng). Sinh ra trong một gia đình công giáo nghèo, cư ngụ cạnh chợ Tân Thuận. Ba Hoàng được cha mẹ cho ăn học đến hết lớp elêmentaire. Gặp lúc cảnh nhà khốn khó anh thuê xe dùng con ngựa còm của gia đình đêm đêm đưa rước khách trên tuyến Tân Thuận - Sài Gòn. Ngặt nỗi, vào thời buổi khó khăn, khách đi lại ít, tiền kiếm được chẳng là bao. Cảnh sang giàu và nghèo túng vẫn ngày ngày đập vào mắt anh. Mong thoát vận bí anh triệu tập đàn em, tổ chức đánh cướp hàng hóa ở bến cảng Tân Thuận và cả bến cảng Sài Gòn nói chung. Với bản lĩnh, sự năng nổ, tháo vát ngoại giao của Ba Hoàng cộng với số "tay dao tay súng" ngày càng tăng, nhóm của Ba Hoàng "làm ăn " phát đạt, tiếng tăm “nổi” như cồn, khiến các tay anh chị khác phải “để ý”.

Tại bến tàu, bến xe, nhiều băng nhóm giang hồ khác “làm ăn" bằng cách thầu bảo vệ các sòng bạc, nhận đâm thuê, chém mướn, bắt cóc con tin... Hoạt động của các băng nhóm này dữ dằn đến nỗi bọn lính cũng giả bộ làm ngơ, không dám nhúng tay can thiệp. Bến tàu Nguyễn Văn Kiệu, cạnh cột cờ Thủ Ngữ, là chốn làm ăn ban đầu của nhóm giang hồ Trần Văn Đối (Sáu Đối). Rồi sau, nhóm này quản luôn cả bến đò Thủ Thiêm. Khi thế lực đã mạnh. Sáu Đối nhường lại các khu vực này cho một số đàn em hoạt động, còn mình và đa phần trong nhóm dịch chuyển sang hành nghề ở miệt Chợ Lớn, vùng chạy dọc bến Hàm Tử và Lê Quang Liêm. Năm 1940, khi Nhật vào Đông Dương, dùng tiền và vàng lo lót. Sáu Đối và nhóm của mình được thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của một hãng chuyên đóng tàu đi biển, đi sông cho quân đội Nhật ở vùng Nam Bộ. Bấy giờ, Sáu Đối đã có một lực lượng khá đông, trang bị phần lớn là súng.

Ngoài hai nhóm giang hồ trên đây, có một số nhóm chuyên nghề đánh cướp nhà giàu, tiệm buôn, ghe thuyền, tàu xe... Công việc này, giới anh chị thương gọi là đi "hát". Thuộc loại này, trên địa bàn và vùng lân cận xã Phú Mỹ có các nhóm của Sáu Hoà vùng đông bắc xã, của hai anh em Sáu Kìm, Bảy Tường tây nam xã, của Bảy Tần. Năm Thợ Rèn, Ba Y, Tư Dết, Tư Màng... tại mạn nam xã mà "sào huyệt" đặt trong vùng Dừa Xụp ở phía tây bắc Phú Mỹ.

Cũng ở Tân Thuận bên cạnh những nhóm giang hồ kể trên, trội vượt và trùm lên là nhóm do Trần Văn Thơ (Sáu Thơ hoặc Xã Thơ) làm thủ lĩnh. "Đất căn bản" của nhóm này là khu vực tiếp giáp xã Tân Quy, một vùng đất đai hoang hóa với những "đám lá tối trời" u tịch nơi có rạch ông Đội, rạch Bàng Đông, thông ra cầu Hàng đổ dòng vào kinh Tẻ, tiện cho ẩn náu và dễ dàng cơ động ra Tân Quy, qua ấp 1, ấp 2 Tân Thuận... xuống địa bàn Dừa Xụp... Sáu Thơ sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, theo đạo Thiên Chúa, đất có năm mẫu, trâu cày, ghe, xuồng đều sắm đủ. Chiều chiều, trong bộ cánh lành lặn, những người trong gia đình bác Cả Thoi, cha của Sáu Thơ, một thầy dạy võ có tiếng thời ấy, đều đặn đến nhà thờ bên xóm Chiếu. Bị bọn địa chủ tư sản địa phương dựa vào thần thế của người thân là tay sai của thực dân Pháp cướp hết ruộng đất, cả gia đình phải tới dốc cầu Tân Thuận mở lò rèn, rồi lại chuyển tới cầu Hàn để sống bằng nghề cưa xẻ gỗ. Sáu Thơ cùng người em trai thứ chín, chín Thôi, rủ thêm những bạn bè cùng trang lứa, chung cảnh ngộ, bỏ nhà đi "hát". Đầu tiên, cả thảy có độ vài mươi người và bảy khẩu súng. Đối tượng chủ yếu là nhè vào những kẻ sang giàu, nhất là bọn người có quyền, có thế và có súng đạn hay hiếp đáp dân nghèo. Chẳng bao lâu, nhóm của Sáu Thơ, Chín Thôi lên tới con số 60 người với 40, rồi 50 khẩu súng. Các nhóm Sáu Hoà (Tắc Rỗi). Bảy Trường... lần lượt tới gia nhập, thanh thế của nhóm Sáu Thơ ngày một mở rộng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn