Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh (1)

Hồi ký Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân trong chiến tranh ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân (22/10/1963 - 22/10/2008). 45 năm xây dựng, chiến đâu và chiến thắng đánh dấu một chặng đường lịch sử vẻ vang đầy hào hùng của Bộ Tham mưu trong nửa cuối thế kỷ XX. Chiến tranh thấm thoắt đã lùi vào quá khứ, những người hiện còn sống không khỏi bồi hồi nhớ lại và tiếc thương bao đồng đội, đồng chí và bạn bè thân thiết đã n

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CƠ QUAN THAM MƯU QUÂN CHỦNG
PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN

Trung tướng Hoàng Ngọc Diêu
Nguyên Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ

1. Cơ quan tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân ra đời từ hai lực lượng Phòng không - Không quân hợp nhất ngày 22-10-1963.

Sự ra đời của Quân chủng Phòng không - Không quân đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, gồm các binh chủng Cao xạ, Không quân, Tên lửa, Ra đa được trang bị hiện đại có trình độ khoa học kỹ thuật cao.

Cơ quan tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân bắt đầu từ cơ quan tham mưu của Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân hợp nhất lại, về tổ chức là hai cơ quan ghép lại, chức trách nhiệm vụ chưa rõ nhất là cơ quan tham mưu cấp Quân chủng, vì thời kỳ đầu Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng trực tiếp lãnh đạo chỉ huy trực tiếp đến cấp trung đoàn "chỉ là đơn vị chiến thuật", nhưng Quân chủng có nhiệm vụ chiến dịch, chiến lược: Là bảo vệ và quản lý vùng trời giúp Bộ Quốc phòng - Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo xây dựng thế trận phòng không nhân dân và lực lượng phòng không ba thứ quân, trực tiếp bảo vệ các mục tiêu chiến lược - yêu cầu cơ quan Tham mưu Quân chủng phải có tầm chiến dịch - chiến lược để giúp Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân chủng làm tham mưu cho Bộ.

- Trình độ cán bộ Tham mưu lúc đầu đa số từ bộ binh chuyển qua, bản lĩnh chính trị rất tốt, qua chiến đấu được rèn luyện, nhưng chưa đi sâu vào binh chủng, trình độ nghiệp vụ còn rất thấp; có một số ít học ở Liên Xô, Trung Quốc nhưng chưa qua chiến đấu phòng không - chỉ có một số đã trực tiếp chiến đấu pháo cao xạ ở chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng chỉ ở cấp tiểu đoàn, công tác tham mưu phòng không đơn vị lớn chưa có kinh nghiệm.

- Phải đấu trí với một đối tượng tác chiến là không quân đế quốc Mỹ, một lực lượng mạnh và hiện đại nhất thế giới đã qua chiến đấu, âm mưu thủ đoạn hết sức thâm độc và xảo quyệt.

2. Quá trình hình thành và phát triển.

Quá trình hình thành và phát triển của ngành Tham mưu nói chung và Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân nói riêng là một quá trình vừa chiến đấu, vừa xây dựng khẩn trương có những bước nhảy vọt, từ thực tiễn trong chiến đấu mà trưởng thành lên, ngay tổ chức cũng từng bước hình thành phát triển đi đến hoàn chỉnh.

- Lúc đầu ta chỉ có lực lượng pháo cao xạ, chưa có Không quân tiêm kích và chưa có tên lửa, các trận chiến đấu chỉ có lực lượng cao xạ cao nhất là cấp trung đoàn. Cấp sư đoàn, binh chủng chưa hình thành, đến năm 1965 - 1966 đã có đủ các binh chủng Cao xạ, Tên lửa, Không quân tiêm kích, đây là bước nhảy vọt về lượng và chất của lực lượng Quân chủng Phòng không - Không quân; cơ quan tham mưu của Quân chủng không thể giúp Bộ tư lệnh Quân chủng đi sâu lãnh đạo chỉ huy các binh chủng, yêu cầu phải có cơ quan Tham mưu đi sâu vào từng binh chủng để chỉ đạo về mặt tác chiến - huấn luyện binh chủng, đã hình thành tổ chức, Bộ Tham mưu chung có tham mưu trưởng Quân chủng và cơ quan Tham mưu các binh chủng: Không quân, Tên lửa, Ra đa có Tham mưu trưởng Không quân, Tham mưu trưởng tên lửa và chủ nhiệm ra đa.

- Cuối năm 1967, lực lượng tên lửa, lực lượng không quân tiêm kích đã phát triển nhiều trung đoàn, yêu cầu đánh lớn, tác chiến phòng không hiệp đồng binh chủng đã xuất hiện nhất là bảo vệ các yếu địa lớn, các trục giao thông chiến lược - Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng không thể trực tiếp lãnh đạo chỉ huy đến cấp trung đoàn, Bộ Tham mưu cũng không thể một lúc nắm hàng chục đầu mối được do đó phải hình thành cấp sư đoàn và binh chủng.

- 3 Bộ tư lệnh Binh chủng: Không quân, Tên lửa, Ra đa.

- 4 Sư đoàn: Sư 361 (Hà Nội), Sư 363 (Hải Phòng), Sư 367 (cơ động), Sư 365 (đường 1 Bắc)

Bộ Tư lệnh Quân chủng đã giải thể cơ quan Tham mưu binh chủng để tăng cường cán bộ cho cơ quan Tham mưu sư đoàn và Bộ Tư lệnh Bộ Tham mưu tổ chức hợp lại thành cơ quan giúp Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng lãnh đạo chỉ huy chỉ đạo trở thành là cơ quan Tham mưu cấp chiến dịch, chiến lược. Thời gian này Bộ Tham mưu Quân chủng được bổ sung nhiều cán bộ đã qua chiến đấu và đã đi sâu vào binh chủng, tổ chức được kiện toàn, chức trách nhiệm vụ rõ hơn các cơ quan binh chủng và sư đoàn đã hình thành và có sự phân cấp về lãnh đạo chỉ huy, có thể nói hệ thống Tham mưu của Quân chủng Phòng không - Không quân đã trưởng thành và lớn mạnh.

« Sửa lần cuối: 20 Tháng Sáu, 2016, 08:28:49 pm gửi bởi Giangtvx »

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2016, 06:58:00 am »
Năm 1967 tác chiến Phòng không đã có bước phát triển lớn, từ những trận đánh nhỏ, vừa vươn lên đánh những trận lớn, hiệp đồng binh chủng. Những đợt đánh trả địch tập kích Hà Nội, Hải Phòng đã có kế hoạch tác chiến thống nhất chỉ huy thống nhất trên một khu vực rộng lớn có nhiều mục tiêu bảo vệ, liên tục dài ngày và có những trận then chốt quyết định, đã xuất hiện những yếu tố có tính chất chiến dịch Phòng không. Đây là một sự tiến bộ toàn diện mà nổi bật là sự tiến bộ về trình độ tổ chức chỉ huy nói riêng và công tác tham mưu nói chung.

Cuối năm 1967 đầu năm 1968 do yêu cầu đánh lớn để bảo vệ các yếu địa chiến lược và các trục đường giao thông chiến lược, chuẩn bị lực lượng tham gia tác chiến trong quân binh chủng hợp thành đều do Bộ Tham mưu trực tiếp tổ chức, yêu cầu phải sử dụng lực lượng lớn, hiệp đồng chiến dấu binh chủng cao, lực lượng tên lửa đã trưởng thành có nhiều trung đoàn đã qua chiến đấu, cán bộ tên lửa, cao xạ số lượng đủ, năng lực chỉ huy tốt, qua rèn luyện có kinh nghiệm chiến đấu, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng đã giải thể Bộ Tư lệnh Tên lửa, tổ chức của sư đoàn phòng không hỗn hợp tên lửa - cao xạ để giải quyết hiệp đồng giữa hai Binh chủng Cao xạ - Tên lửa, lực lượng chủ yếu của thế trận phòng không đất đối không, hai lực lượng vừa hiệp đồng tác chiến vừa yểm hộ cho nhau, còn Binh chủng Không quân đến năm 1967, tổ chức Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân chiến đấu và Lữ đoàn Không quân vận tải 919 đều trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, để tập trung lãnh đạo chỉ huy lực lượng Không quân tiêm kích, làm nhiệm vụ tác chiến phòng không là lực lượng cơ động và lực lượng chủ yếu không đối không.

Hệ thống tham mưu Quân chủng lúc này lại có sự thay đổi tuy không lớn nhưng rất cơ bản là phải kiện toàn các cơ quan tham mưu của sư đoàn Phòng không hỗn hợp Tên lửa - Cao xạ để đủ sức giúp Đảng ủy và bộ Tư lệnh sư đoàn lãnh đạo chỉ huy thống nhất hai lực lượng, mỗi binh chủng có đặc thù riêng nhưng ở trong một cơ chế tổ chức sư đoàn đòi hỏi phải có những mặt thống nhất.

Công tác tham mưu tổ chức hiệp đồng tác chiến chủ yếu hai lực lượng:

Lực lượng đất đối không với lực lượng không đối không. Hình thức hiệp đồng chủ yếu là đánh ngoài khu vực. Tên lửa - Cao xạ đánh thì Không quân tiêm kích không đánh, Không quân tiêm kích đánh thì tên lửa - cao xạ không đánh và hiệp đồng theo thời gian đã phát huy cao độ tính năng của từng loại vũ khí và không hạn chế lẫn nhau.

Trong chỉ huy sở Quân chủng có 2 bộ phận, bộ phận chỉ huy lực lượng Phòng không do Quân chủng trực tiếp chỉ huy, bộ phận chỉ huy không quân do Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân chỉ huy, Quân chủng trực tiếp giao nhiệm vụ và hiệp đồng chiến đấu. Sở chỉ huy Không quân ở bên cạnh sở chỉ huy Quân chủng có thể xem là một bộ phận của sở chỉ huy Quân chủng thông báo hiệp đồng rất chặt chẽ.

Ngành tham mưu của Quân chủng nói chung và Bộ Tham mưu Quân chủng nói riêng đã trưởng thành và hoàn chỉnh, Bộ Tham mưu Quân chủng là cơ quan Tham mưu cấp chiến dịch - chiến lược đã giúp Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân lãnh đạo chỉ huy các lực lượng trực thuộc Quân chủng và làm tham mưu cho Bộ xây dựng thế trận phòng không nhân dân, xây dựng lực lượng phòng không ba thứ quân, tổ chức hiệp đồng tác chiến, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đất đối không, đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của không quân đế quốc Mỹ, đỉnh cao là chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng 12 - 1972 trên bầu trời Hà Nội, đã đánh bại lực lượng B-52 không quân chiến lược của Hoa Kỳ, về mặt bảo vệ giao thông chiến lược và tham gia tác chiến phòng không trong Quân binh chủng hợp thành cũng có những bước tiến lớn, nhất là cuộc tiến công chiến lược năm 1972 mà hướng chủ yếu là chiến trường Quảng Trị và tổng tiến công nổi dậy xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh.

Chúng ta là những cán bộ tham mưu của ngành Tham mưu Phòng không - Không quân nói chung và Bộ Tham mưu nói riêng, rất tự hào và phấn khởi nhìn lại quá trình hình thành và phát triển đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Những thành tích to lớn đó đều do có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo chỉ huy của cấp trên, trực tiếp là Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng qua các thời kỳ, của tập thể cán bộ, chiến sĩ Bộ Tham mưu, đã đoàn kết, phát huy tính sáng tạo, mưu trí với nghiệp vụ tinh thông, đã đưa ngành Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân từ một cơ quan tham mưu chỉ biết bộ binh đã đi sâu vào các binh chủng hiện đại, giúp Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng phát huy được sức mạnh từng binh chủng và sức mạnh tổng hợp của thế trận Phòng không - nhân dân và sức mạnh Phòng không nhân dân, đã chiến thắng không quân đế quốc Mỹ.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2016, 07:05:49 am »

ĐÔI DÒNG TÂM SỰ
Thiếu tướng Nguyễn Quang Bích
Nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng
Quân chủng Phòng không - Không quân

Nhớ và ghi lại những ký ức về công tác tham mưu trong chiến tranh, tôi thực sự xúc động và thấy đây là một việc làm rất cần thiết, rất đáng trân trọng. Với tôi, gần trọn cuộc đời binh nghiệp phần lớn lại làm công tác đó nên bao nhiêu là sự kiện sâu sắc, đáng nhớ. Nhưng tuổi đời đã cao, trí nhớ đã giảm, sức khỏe không còn như cũ, nên chắc chắn không viết được nhiều, được dài nữa. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng thực dân Anh đã khởi hấn gây chiến tranh ở Nam Bộ, thì ngày 24-9-1945 tôi đã lên đường cùng đội quân Nam tiến, bỏ lại đằng sau bao điều thương nhớ đối với người thân yêu ruột thịt.

Tiếp đó, năm 1953, tôi lại được điều ra miền Bắc và bắt đầu xây dựng lực lượng cao xạ pháo binh của quân đội, học tập rèn luyện xây dựng và đưa pháo vào chiến trường thử lửa. Làm tham mưu cao xạ, lăn lộn với chiến trường Điện Biên Phủ cho đến ngày kết thúc chiến dịch, năm 1954 tôi mới về thăm bố, thì bố đã qua đời. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi, công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc chưa thực hiện được bao nhiêu, thì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ngày càng bức xúc. Sau những ngày tháng cùng độ Tư lệnh phòng không xây dựng và tiến hành đánh trả thắng lợi cuộc tập kích 5-8-1964 của không quân Mỹ - ngụy vào miền Bắc, tôi lại khăn gói ba lô lên đường.

Tháng 10-1964, theo con đường mòn trên biển, sau 2 tháng ròng trở lại miền Nam. Xa miền Bắc, đằng đẵng 2 năm trời cùng Bộ chỉ huy miền nghiên cứu để chuyển pháo binh cơ giới cho chiến trường miền Nam, ngày 26-4-1966 trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, địch ném bom kho xăng Đức Giang, tôi lại được lệnh trở ra miền Bắc. Trong muôn vàn khó khăn của chiến tranh, vừa phải hết sức khẩn trương lại vừa phải tuyệt đối an toàn. Chuyến ra miền Bắc lần này thực hiện bằng con đường hợp pháp được đi bằng các loại xe sang trọng của Pháp sang Phnôm-pênh rồi bằng máy bay của hãng "Air France" của Pháp sang Quảng Châu từ Quảng Châu về Nam Ninh xuống sân bay Gia Lâm.

Anh Phùng Thế Tài đem xe đến đón tôi và giao luôn nhiệm vụ làm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân. Thế là ở cương vị này, cuộc đấu trí, đấu lực giữa 2 cơ quan Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân miền Bắc và cơ quan chiến tranh của liên quân Mỹ - ngụy diễn ra từng ngày từng giờ hết cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đến thứ hai.

Ngày 1-11-1968 và sau đó cuộc hội đàm bốn bên tại Pa-ri bắt đầu, không quân Mỹ - ngụy tạm ngừng đánh phá miền Bắc, chuyển hướng đánh phá tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh. Trên lại điều động tôi vào làm phó tư lệnh bộ đội Trường Sơn cho đồng chí Đồng Sỹ Nguyên, cùng với Cục Phòng không do các anh Vũ Thành, Trần Trung Tín, Ngô Huy Biên phụ trách. Có thể nói cuộc chiến đấu giữa một bên là Mỹ sử dụng hết mọi lực lượng không quân các loại, chiến thuật chiến lược tung ra hết mọi thủ đoạn kỹ thuật công nghệ cao, tìm cách cắt đứt sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam. Còn bên ta là dùng mọi mưu trí và biện pháp đánh lại, duy trì và tăng cường không ngừng lực lượng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chiến trường miền Nam đánh thắng.

Nếu như ở miền Bắc, hoạt động công tác tham mưu chủ yếu là mở mặt trận đối không đánh thắng mọi hoạt động tiến công đường không của Mỹ thì ở chiến trường 559 và chiến trường miền Nam, hoạt động tham mưu diễn ra toàn diện cả trên bộ, trên biển, trên không, vô cùng phức tạp. Trong khoảng thời gian này ta với địch đã diễn ra rất nhiều chiến dịch như chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20-1 đến 15-7-1968 ), chiến dịch Đường 9 Nam Lào (30-1 đến 23-3-1971), chiến dịch Trị - Thiên (30-3 đến 27-6-1972). Tháng 5- 1972, khi đang chỉ đạo công binh mở tuyến đường 16 xuống An Lão, Bình Định, chuẩn bị cho công việc chuyển pháo phòng không 37mm vào sâu cùng với các pháo cơ giới hạng nặng, xe tăng, tôi được lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở về lại Quân chủng Phòng không - Không quân. Thế là sau ba lần vào miền Nam, tôi lại trở lại miền Bắc và trên cương vị Tham mưu trưởng, cùng với đội ngũ anh em tham mưu dày dạn kinh nghiệm canh trời, giữ nước. Cuộc tập kích của máy bay chiến lược B-52 của không quân Mỹ vào Hà Nội - Hải Phòng tháng 12-1972, và tiếp đó sau ngày ký kết hiệp định Pa-ri tháng 1-1973 cuộc tấn công lịch sử cuối cùng của Mỹ - ngụy tháng 4-1975 là những chặng đường hoạt động cuối cùng của tham mưu chiến tranh.

« Sửa lần cuối: 20 Tháng Sáu, 2016, 08:29:09 pm gửi bởi Giangtvx »

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2016, 07:06:48 am »
60 năm quân ngũ, 60 năm chiến đấu không mệt mỏi, 60 năm công tác tham mưu, góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, cùng chiến đấu với tôi, bao đồng đội, đồng chí đã ngã xuống, không còn nữa. Để bù lại những mất mát đó và cả những mất mát to lớn của dân tộc ta, việc chúng ta nhớ và ghi lại những kinh nghiệm chiến tranh là một điều rất đáng trân trọng. Trên các chặng đường làm công tác tham mưu mà tôi sơ lược kể qua trên đây, có khá nhiều điều kỷ niệm sâu sắc. Có một điều mà tôi tâm nguyện nhất trong công tác tham mưu là phải biết lắng nghe, phải coi trọng ý kiến của mọi người, là đừng bao giờ cho cái gì của mình cũng đúng cả. Binh pháp Tôn Tử có câu: 'Biết địch, biết ta trăm trận trăm thắng" Bác Hồ đã dạy ta "Do bất biến ứng vạn biến".

Tôi nhớ lại ngày 13-4-1966, máy bay địch bổ nhào đánh trực tiếp vào ga Yên Viên, khi đoàn tàu chở các xi téc xăng đang vào ga, tôi và đồng chí Vũ Khắc Long đứng giữa trận địa thấy đạn bắn lên toàn vuốt đuôi. Tìm ra mới biết đội hình bố trí của mình vẫn máy móc theo kiểu đánh máy bay ném bom bay bằng. Đánh xong và giải quyết thương binh tử sĩ xong, chúng tôi cùng trung đoàn quyết định co đội hình lại, tiểu cao bắn bổ nhào trực tiếp, trung cao đánh giai đoạn máy bay chuẩn bị bổ nhào, và hiệu quả ngày hôm sau, máy bay Mỹ đền tội ngay khi đánh vào cầu Đuống.

Tháng 7-1970, địch ra sức bắn phá, khống chế các chân hàng vùng "cán xoong" Khu IV. Nó bắn vào cầu phao Bến Thủy, cầu phao hỏng, nó đánh cầu Cấm, cầu gẫy. Nó đánh một loạt vào các cầu Om, Truông Bồn. Đoàn cán bộ tham mưu thấy nó vào trong hỏa lực cao xạ mà chẳng sợ gì cả, cũng chẳng phải nó mạnh hơn mình. Cuối cùng lại do ta, do không ai lo bảo vệ cho cái lưng của chiến sĩ cả. Cùng đơn vị đoàn cán bộ tham mưu đề xuất ý kiến cứ mỗi đại đội dành riêng 1 khẩu bảo vệ cho 3 khẩu bắn, cả tiểu đoàn tập trung 2 đại đội đánh còn 1 đại đội bảo vệ anh em. Chính ủy quân chủng không đồng tình.

Chúng tôi bảo các đồng chí theo tư lệnh chiến trường cứ thế mà làm. Kết quả máy bay không vào trong hỏa lực được và rơi liên tục. Tôi nói với trung đoàn trưởng Đoàn Minh, thực hiện rất sáng tạo, linh hoạt. Lúc này anh phải bắn rơi, còn mục tiêu tư lệnh phải chịu trách nhiệm. Trận đó, đoàn bắn rơi 2 chiếc tại chỗ, bắt sống giặc lái. Tôi mượn 1 chiếc xe đạp cùng mấy anh em trợ lý đi khảo sát vùng cầu Om, Truông Bồn, nghiên cứu cụ thể đường bay đánh của địch, bố trí lại đội hình của Trung đoàn 224 do đồng chí Mạnh Hùng và Hữu Tiệp chỉ huy, đánh liên tục mấy ngày, địch không vào nữa, giải phóng việc vận chuyển, chân hàng thông suốt.

Ở Nam Bộ, nhiều lần B-52 ném bom rải thảm, cơ quan tham mưu theo dõi nắm chắc quy luật, thu thập đủ mọi triệu chứng tình hình, tránh các giờ địch đánh mỗi lần thực hành hành quân, vận chuyển, tiến hành ẩn nấp chu đáo. Một lần, đang hành quân tiếp nhận hàng của miền Bắc chuyển vào qua ừng cao su, trong đoàn bỗng có một người bỏ hàng chạy biến đi đâu không biết, lập tức sơ tán ngừng vận chuyển. Địch phán đoán phải hành quân nhiều ngày, mình rút xuống 2 ngày, nên đợt vận chuyển hàng an toàn tuyệt đối.

Vào những năm 1967 - 1972, trên khu vực Vĩnh Linh, các tiểu đoàn tên lửa gặp khó khăn. Có lần Tư lệnh đã có lệnh hoãn không cho tên lửa đánh ban ngày. Cán bộ, chiến sĩ càng thêm ngại. Bộ Tham mưu cùng đơn vị nghiên cứu tập trung chọn khu vực địch bay vào, bố trí cả 2 tiểu đoàn tên lửa và mấy trung đoàn cao xạ, cả 23mm đánh, kết quả rơi 2 chiếc tại chỗ. Từ đó địch giãn cường độ đánh phá.

Năm 1968, để chuẩn bị đánh lại miền Bắc lần thứ 2, địch liên tục phóng không người lái vào trinh sát, đoàn cán bộ tham mưu cùng đồng chí Trần Xanh, trung đoàn trưởng 236 đến từng người dân ở các khu vực đánh dấu cụ thể điểm nó bay qua, hình thành đường bay quy luật trên thực địa. Sau đó điều chỉnh đội hình đánh, cả tuần bắn rơi 7 chiếc, trong đó có 4 chiếc do tên lửa tiêu diệt.

Tháng 12-1972, để đánh thắng trận tập kích chiến lược của địch bằng B-52 vào Hà Nội - Hải Phòng, vấn đề đặt ra của Bô Tham mưu là phải bảo đảm phát hiện chính xác B-52 trên nền nhiễu của chúng gây ra. Cử người xuống các đại đội ra đa quan sát nhiễu, xác định rõ cường độ, đường bay của chúng ở các trận địa bố trí ra đa khác nhau. Những vị trí bố trí chếch trên 45 độ so Với trực bay chính của B-52 là những trân địa phát hiện tốt. Việc kiến nghi điều chỉnh đội hình ra đa của Bô Tham mưu đã góp phần lớn vào việc phát hiện xa và chính xác các đợt đánh phá vào Hà Nội cuối tháng 12-1972.

Tôi điểm ra đây một số ví dụ thực tiễn trong chiến tranh của cơ quan tham mưu. Biết địch đã là rất khó vì nó là khách quan. Nhưng biết ta lại bao gồm cả 2 mặt khách quan và chủ quan, càng khó hơn. Đào tạo và rèn luyện được một đội ngũ cán bộ tham mưu có phẩm chất cao, có bản lĩnh chiến đấu vững vàng có tri thức khoa học dồi dào lại có đầy đủ tác phong công tác sâu sắc, thực tiễn mưu trí chịu khó học hỏi là bài học rất quý báu. Chiến tranh là thử thách cao nhất, là Tham mưu trưởng lâu đời trong Quân chủng Phòng không – Không quân, nhưng điều đã làm được hoàn toàn nhờ dựa vào một đội ngũ sĩ quan như vậy trong chiến tranh. Tôi thật sự cảm ơn và hy vọng tương lai, Quân chủng cũng cố gắng xây dựng được một đội ngũ cán bộ tham mưu đầy tin cậy như vậy.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh« Trả lời #5 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2016, 07:16:12 am »
NHỚ LẠI CÔNG TÁC THAM MƯU
PHÒNG KHÔNG TRONG CHIẾN TRANH

Thiếu tướng Dương Hán
Nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng

Quá trình tham gia cách mạng của tôi gắn bó máu thịt với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Vào quân đội, tôi chiến đấu và trưởng thành lên từ Đại đoàn bộ binh 308. Tôi bị thương trong chiến dịch Biên giới năm 1950 và được về làm trưởng phòng tác chiến đại đoàn.

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc. Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hòa bình được lập lại. Về đóng quân tại Thái Nguyên, tôi được cử đi Trung quốc học pháo cao xạ. Học xong về nước tôi được phụ trách xây dựng Sư đoàn phòng không 367 gồm hỗn hợp pháo cỡ 88mm, 37mm và 57mm.

Sau sự kiện vịnh Bác Bộ ngày 5-8-1964 do đế quốc Mỹ gây ra và tiếp đó là cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ xâm lược đối với miền Bắc, địch đã không từ một thủ đoạn nào tiến hành leo thang đánh phá, hòng ngăn chặn mọi sự chi viện của miền Bắc đối với chiến trường, ra sức phá hoại hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa. Tôi cùng cơ quan tham mưu Quân chủng lao vào nghiên cứu địch, tìm mọi biện pháp để bảo vệ miền Bắc. Lúc này tôi được bổ nhiệm về làm tư lệnh Sư đoàn phòng không 361 Hà Nội. Trước ngày xuống đơn vị, đồng chí Phùng Thế Tài gặp tôi và bảo: "Hãy nán lại, giúp tư lệnh làm phái viên đốc chiến các đơn vị cơ động đội hình mới ra quân, và bảo tôi: "Chừng nào lấy được đuôi máy bay Mỹ về nộp xong mới đi!". Tôi thật sự cảm động và phấn khởi.

Làm xong nhiệm vụ đốc chiến một thời gian tôi về sư đoàn cùng các anh Văn Giang, Hoàng Văn Thiệm... củng cố sở chỉ huy, cơ quan tham mưu, và đặc biệt công tác nghiên cứu thủ đoạn đánh phá vừa qua của địch. Trên đội hình chiến đấu đã được bố trí sẵn, tôi gặp một khó khăn là Tư lệnh Quân chủng không cho phép Sư đoàn quyền được xê dịch bất cứ một đại đội pháo nào? Tôi thật sự băn khoăn với cơ quan tham mưu, thế này thì nó đánh hỏng mất cầu, mất yếu địa bảo vệ. Đội hình bố trí của cao xạ Hà Nội trước mắt chưa kết hợp được thế trận của pháo trung cao bắn máy bay bổ nhào với thế trận của pháo trung cao bắn máy bay bay bằng từ xa bay vào, mà pháo tiểu cao lại không ôm sát mục tiêu.

Và thực tế đã diễn ra, ngày 29-6-1966. Từ 12 giờ 08 phút đến 12 giờ 30 phút, 24 F-105 của không quân chiến thuật Mỹ từ Thái Lan sang đến Yên Bái chúng hạ thấp độ cao bay xuống Việt Trì dọc sông Lô đến Tam Đảo nâng lên bổ nhào ném bom kho xăng Đức Giang, Hà Nội. Bị bất ngờ không đại đội nào bắn được. Trên bàn đánh dấu, ra đa chỉ bắt được địch từ Thái Lan đến Yên Bái sau đó mất mục tiêu. Còn một tình tiết nữa của công tác tham mưu là trước đó, Cục Tác chiến đã có gợi ý cho Tư lệnh về việc địch sẽ đánh 2 kho xăng Hà Nội và Thượng Lý Hải Phòng, Tư lệnh nhiều việc quên không nói với đơn vị. Gần 10 giờ sáng 29-6-1966, đồng chí trợ lý tác chiến Ninh Hữu Trác được phái xuống phổ biến cho Sư đoàn thì 12 giờ địch đã vào đánh. Bộ tư lệnh Hà Nội hoàn toàn bị bất ngờ, tôi lệnh điều một tiểu đoàn pháo 37mm sang bổ sung nhưng không kịp. Sau thất bại này, trên dưới trong nội bộ Bộ Tham mưu đều kiểm điểm rút kinh nghiệm, Bộ cử một phái đoàn do đồng chí Vương Thừa Vũ chủ trì xuống kiểm điểm với Quân chủng. Trong cuộc họp, tôi nhận trách nhiệm đã không hoàn thành nhiệm vụ, tội là về tôi, tôi không từ chối. Tôi xin có ý kiến, một cuộc tập kích của địch đã được Bộ nhận định trước mà phía Quân chủng không thực sự coi đó là một hoạt động chiến dịch, địch đánh ta bằng cường kích ở độ cao cao, tốc độ lớn, đường bay theo kiểu "nhảy cừu", bổ nhào trực tiếp, máy bay và khói bom lấp cả kính ngắm pháo thủ, mà ta không thay đổi bố trí ôm sát yếu địa bảo vệ, đánh bổ nhào như kiểu miền Nam bám thắt lưng địch mà đánh, nên không tiêu diệt được địch. Bộ tổng Tham mưu cũng nhất trí như ý kiến đóng góp của cơ quan tham mưu.

Sau trận này, tôi thật sự ân hận, có tin tôi bị cách chức, nhưng đồng chí Tư lệnh lại giao cho tôi mở lớp tập huấn cho các đại đội pháo tiểu cao về kinh nghiệm chiến đấu. Kết thúc lớp học, tôi được đồng chí Tư lệnh gặp và đón về giao tôi làm sư trưởng Sư đoàn 367 cùng với Sư đoàn 361 bảo vệ Hà Nội.

Địch tăng cường leo thang đánh phá, đặc biệt đối với các nhà máy công nghiệp như các nhà máy điện. Bằng thủ đoạn "nhảy cừu", mấy lần địch vào ném bom làm hỏng nhẹ Nhà máy điện Yên Phụ. Sau nhiều lần bị trên phê bình nặng, cơ quan tham mưu cùng Sư đoàn xây dựng một trận địa mới pháo tiểu cao bằng các hòm tên lửa trên Hồ Tây. Sau mấy lần tập kích bị bắn, địch bị thương và cuối cùng phải đền tội, tên giặc lái Giôn Mác Kên nhảy dù bị tóm gọn ở hồ Trúc

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn