Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ - Đại tướng Phạm Văn Trà
Đại tướng Phạm Văn Trà nổi tiếng là vị tướng dạn dày trận mạc, gan góc, thông minh với những trận đánh bất ngờ, táo bạo đã làm kẻ thù khiếp sợ. Hơn nửa thế kỷ phục vụ quân đội, đồng chí đã trải qua từ những vị trí công tác từ chiến sĩ liên lạc, tổ trưởng 3 người cho đến cán bộ cấp sư đoàn, quân khu, rồi Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Thân thế và sự nghiệp
Đại tướng Phạm Văn Trà sinh ngày 19-8-1935, tại xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1953: Tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam, phục vụ với vai trò lính thông tin khi mới 18 tuổi.
Ngày 24-5-1956: Gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam.
Năm 1964: Là một trong những người chỉ huy của lực lượng đầu tiên tiếp viện cho chiến trường U Minh. Cho đến hết chiến tranh, đồng chí chủ yếu hoạt động ở chiến trường miền Tây Nam Bộ.
Năm 1973: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, Quân khu 9.
Từ tháng 12-1975 đến 1977: Tham mưu trưởng Sư đoàn 4; Phó sư đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 330, Quân khu 9.
Năm 1978: Học tại Học viện quân sự cấp cao.
Năm 1980: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, Quân khu 9, chỉ huy sư đoàn làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia.
Tháng 3-1983: Phó tư lệnh Mặt trận 979.
Năm 1985 - 1988: Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 9.
Tháng 6-1988: Phó tư lệnh Quân khu 3.
Năm 1989 - 1993: Tư lệnh Quân khu 3.
Tháng 12-1993: Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 12-1995: Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Từ tháng 10-1997 đến 6-2006: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa VII, VIII, IX.
Ủy viên Bộ Chính trị khóa VIII, IX.
Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI.
Những đóng góp nổi bật
Đại tướng Phạm Văn Trà nổi tiếng là vị tướng dạn dày trận mạc, gan góc, thông minh với những trận đánh bất ngờ, táo bạo đã làm kẻ thù khiếp sợ. Hơn nửa thế kỷ chinh chiến, đồng chí đã trải qua những vị trí công tác từ chiến sĩ liên lạc, tổ trưởng 3 người cho đến cán bộ cấp sư đoàn, quân khu, rồi Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Đồng chí là một người cộng sản kiên trung, một vị tướng tài năng, luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tuyệt đối trung thành và đi theo con đường của Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Tài thao lược của đồng chí đã được bộc lộ từ những trận chiến đấu trên quê hương Kinh Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến những năm tháng bám trụ ở chiến trường miền Tây Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đồng chí có 12 năm hoạt động trong đội hình chiến đấu của Trung đoàn 1 U Minh. Tiếp đó là gần 10 năm cùng lực lượng vũ trang Quân khu 9 làm nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp, góp phần giải cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Khmer Đỏ...
Trên cương vị Tư lệnh Quân khu 3, đồng chí đã xây dựng mô hình “Quân dân y kết hợp”. Sau này, mô hình được nhân rộng ra toàn quân và trở thành chương trình cấp quốc gia - Chương trình “Kết hợp quân - dân y xây dựng quốc phòng toàn dân, phục vụ sức khỏe nhân dân”.
Khi đảm nhiệm cương vị Tổng Tham mưu trưởng, rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, cùng với việc tập trung điều chỉnh tổ chức lực lượng, bố trí chiến lược của toàn quân, đồng chí đã quan tâm chỉ đạo sâu sát quy hoạch tổng thể doanh trại các cơ quan, đơn vị, tiến hành xây mới trụ sở làm việc của cơ quan quân sự các cấp. Đồng chí coi việc quy hoạch, xây dựng doanh trại trong toàn quân này là một cuộc “đại cách mạng” về doanh trại của Quân đội ta. Về xây dựng cơ bản, một trong những công trình quy mô lớn được hoàn thành trong thời gian đồng chí giữ cương vị Bộ trưởng là trụ sở Bộ Quốc phòng. Dấu ấn đặc biệt của đồng chí còn thể hiện qua nhiều công trình trọng điểm, mô hình nổi tiếng như: Đường tuần tra biên giới; xây dựng các đoàn kinh tế quốc phòng; chỉ đạo quyết liệt phát triển các doanh nghiệp Quân đội xứng tầm quốc gia, vươn ra quốc tế…
Sau khi nghỉ hưu, đồng chí vẫn tích cực trong các hoạt động xã hội bằng tiền cá nhân và huy động các nguồn lực xã hội. Trong đó có hoạt động xây dựng các ngôi chùa “hộ quốc, an dân” tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, có ý nghĩa sâu xa, góp sức lo giữ nước từ sớm với việc giáo dưỡng lòng dân, khơi dậy ý thức tự hào, tự tôn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Ngoài ra, khi có thời gian rảnh là đồng chí đi thăm đồng đội. Đồng chí đã huy động được nhiều nguồn tiền, bàn giao cho cơ quan tài chính các quân khu và hội cựu chiến binh, tổ chức làm được 740 căn nhà từ thiện để tặng đồng đội nghèo. Đối với nhiều gia đình có công với cách mạng còn khó khăn, đồng chí kêu gọi các mạnh thường quân giúp tiền, mua ruộng, tặng nhà. Ngoài ra, đồng chí còn khởi xướng quỹ khuyến học, khuyến tài của tỉnh Bắc Ninh với số tiền 100 tỷ đồng, trong đó cá nhân đồng chí ủng hộ 30 tỷ đồng và góp công sức, tiền của xây dựng nhiều công trình có ý nghĩa cho quê hương...



