Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người chiến sĩ cách mạng kiên trung, học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước, Quân đội, là Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với sự hình thành và không ngừng lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam; với hai cuộc kháng chiến trường kỳ vĩ đại của dân tộc. Đặc biệt là Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu" và Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã góp phần đưa đất nước Việt Nam trở thành biểu tượng chiến thắng của lương tri và phẩm giá con người.
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (tên khai sinh: Võ Giáp, bí danh: Văn) sinh ngày 25-8-1911, tại làng An Xá, nay là xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước.
Ngay từ khi còn là học sinh, được tiếp thu tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí đã tích cực tham gia các phong trào bãi khóa tại Trường Quốc học Huế. Năm 1927, đồng chí gia nhập Đảng Tân Việt cách mạng - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1936, đồng chí tham gia phong trào dân chủ của Đảng ở Hà Nội và là biên tập viên các báo của Đảng như: “Tiếng nói của chúng ta”, “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Thời báo”, “Tin tức”...; tham gia phong trào Đông Dương Đại hội, được bầu làm Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ.
Đầu những năm 40 của thế kỷ XX, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh dìu dắt, giao nhiệm vụ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tích cực hoạt động cách mạng, bám dân, bám địa bàn, xây dựng cơ sở, mở lớp huấn luyện quân sự tại căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Tháng 12-1944, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân-tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Trên các cương vị công tác, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có những đóng góp quan trọng trong các quyết sách chiến lược của Đảng, chỉ đạo các lực lượng vũ trang, cùng toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng. Đặc biệt năm 1954, đồng chí được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng trao quyền trực tiếp chỉ huy các đại đoàn của Quân đội và các lực lượng tiến công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đánh bại đội quân nhà nghề của thực dân Pháp, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneve ngày 20-7-1954 về đình chỉ chiến tranh, khôi phục hòa bình ở Đông Dương.
Sau khi miền Bắc được giải phóng, đồng chí đã cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam; lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ xâm lược, làm nên những thắng lợi vẻ vang với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đất nước hòa bình, thống nhất, trên cương vị là Bí thư Quân ủy Trung ương (đến năm 1977), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (đến năm 1980), Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ (từ tháng 1-1980 đến tháng 4-1981), Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ tháng 5-1981 đến tháng 12-1986), Đại tướng đã cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước.
Với những công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
Tham gia cách mạng: Năm 1925
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam: Năm 1940
Đại tướng: Năm 1948
Năm 1929: Tham gia cải tổ Tân Việt cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
1930: Bị thực dân Pháp bắt giam.
1936 - 1939: Tham gia phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương, Biên tập viên các báo của Đảng, Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ trong Phong trào Đông Dương đại hội.
Sau 5-1941: Xây dựng cơ sở cách mạng ở Cao Bằng, tham gia chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng.
1942: Phụ trách Ban xung phong Nam tiến, dùng hoạt động tuyên truyền vũ trang mở đường liên lạc giữa miền núi với đồng bằng Bắc Bộ.
Tháng 12-1944: Được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao thành lập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.
Tháng 4 đến 8-1945: Ủy viên Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ, Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất (Việt Nam giải phóng quân), tham gia Ủy ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng Việt Bắc, được Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương (8-1945) cử vào Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Quân sự Ủy viên hội trong Chính phủ Liên hiệp, Phó trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đàm phán với Pháp tại Hội nghị trù bị Đà Lạt.
Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam (1946 - 1975).
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (2-1946 đến 8-1947 và 8-1948 đến 1980).
Bí thư Quân ủy Trung ương (1946 - 1977). Phó thủ tướng Chính phủ (Hội đồng Bộ trưởng) (1955 - 1992). Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ 8-1945, khóa II - VI; Ủy viên Thường vụ từ 8-1945, Ủy viên Bộ Chính trị khóa II - IV. Đại biểu Quốc hội khóa I - VII.
Trong kháng chiến chống Pháp, chỉ huy các chiến dịch lớn: Biên Giới (1950), Điện Biên Phủ (1954)...
Trong kháng chiến chống Mỹ, cùng Bộ Chính trị chỉ đạo các chiến dịch lớn ở miền Nam Việt Nam, trong đó có Chiến dịch Hồ Chí Minh, chỉ đạo chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ ở miền Bắc Viêt Nam.
Tác giả nhiều tác phẩm quân sự được xuất bản trong và ngoài nước.
Huân chương Sao vàng, 2 Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất...
NHỮNG ĐÓng GÓP NỔI BẬT
Thực hiện Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, gồm 34 cán bộ, chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách. Ngay sau đó, đồng chí chỉ đạo Đội đánh thắng hai trận đầu ở Phai Khắt, Nà Ngần, tạo khí thế, tinh thần đấu tranh cách mạng cho lực lượng vũ trang và toàn dân. Trên cương vị là Tư lệnh lực lượng vũ trang cách mạng, đồng chí lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng vũ trang phát huy vai trò nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo xây dựng lực lượng ba thứ quân. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đại tướng, bộ đội chủ lực không ngừng lớn mạnh, phối hợp bộ đội địa phương, dân quân du kích, tạo sức mạnh tổng hợp tiêu hao, tiêu diệt số lượng lớn quân địch.
Đại tướng trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy nhiều chiến dịch có ý nghĩa chiến lược giành thắng lợi, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneve, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp tổ chức Bộ tư lệnh Miền, kết hợp thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, bộ đội địa phương với việc đưa các sư đoàn chủ lực từ miền Bắc vào miền Nam.
Đồng thời, Đại tướng kiến nghị với Trung ương và chỉ đạo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên chính quy, hiện đại, nâng cao trình độ chỉ huy tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Cuối cuộc kháng chiến, Đại tướng đề xuất thành lập các quân đoàn chủ lực, nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn. Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là minh chứng khẳng định đề xuất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là sáng tạo, chính xác, phù hợp.
Dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng trưởng thành, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.


