Anh hùng Lực lượng vũ trang

Bộ trưởng Tạ Quang Bửu

Bộ trưởng Tạ Quang Bửu (1910 – 1986) sinh ngày 23-7-1910 tại thôn Hoành Sơn, xã Nam Hoành (nay là xã Khánh Sơn), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình truyền thống Nho học. Đồng chí Tạ Quang Bửu sớm giác ngộ cách mạng, giàu lòng yêu nước. Là nhà khoa học lỗi lạc của Việt Nam, đã có nhiều cống hiến ở các lĩnh vực: Ngoại giao, giáo dục, quân sự - quốc phòng, khoa học công nghệ... Là một tài năng lớn về phương diện lãnh đạo ở tầm quốc gia, là nhà khoa học đa tài, uyên bác hiếm có, nhà ngoại giao bản lĩnh, nhà quản lý giáo dục có tầm nhìn chiến lược và là “cây cầu nối khoa học thế giới với Việt Nam".

Nghệ An26/08/2026Xã An Phú (Đoàn Xã An Phú)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Bộ trưởng Tạ Quang Bửu

Bộ trưởng Tạ Quang Bửu (1910 – 1986) sinh ngày 23-7-1910 tại thôn Hoành Sơn, xã Nam Hoành (nay là xã Khánh Sơn), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình truyền thống Nho học. Đồng chí Tạ Quang Bửu sớm giác ngộ cách mạng, giàu lòng yêu nước.

Là nhà khoa học lỗi lạc của Việt Nam, đã có nhiều cống hiến ở các lĩnh vực: Ngoại giao, giáo dục, quân sự - quốc phòng, khoa học công nghệ... Là một tài năng lớn về phương diện lãnh đạo ở tầm quốc gia, là nhà khoa học đa tài, uyên bác hiếm có, nhà ngoại giao bản lĩnh, nhà quản lý giáo dục có tầm nhìn chiến lược và là “cây cầu nối khoa học thế giới với Việt Nam".

Năm 1926: Sau khi đỗ Thành chung, ông ra học ở Trường Bưởi Hà Nội.

Năm 1929: Ông thi đỗ đầu Tú tài bản xứ, Tú tài Tây ban Toán… và được nhận học bổng đi du học ở Pháp.

Năm 1934: Về nước làm nghề dạy học, nghiên cứu khoa học tự nhiên, tham gia phong trào Hướng đạo sinh và truyền bá chữ quốc ngữ tại Huế.

Tháng 8-1945: Tạ Quang Bửu cùng luật sư Phan Anh ra Hà Nội tham gia cách mạng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giữ nhiều trọng trách trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao trong chính phủ lâm thời, phụ trách giao thiệp với Mỹ và Anh (1945 - 1946), thành viên phái đoàn Chính phủ tại Hội nghị Fontainebleau (6/7-13/9/1946), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1946 - 1947).

Tháng 7-1947: Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1947 - 1948: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng tối cao, thành viên phái đoàn Chính phủ tại Hội nghị Geneve về Đông Dương, thay mặt Bộ Quốc phòng ký các văn bản quân sự với Pháp.

Từ tháng 9-1948 đến năm 1965: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và kiêm nhiệm nhiều cương vị khác như Giám đốc đầu tiên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (từ 1956 đến 1961), Phó chủ nhiệm kiêm Tổng thư ký Ủy ban Khoa học Nhà nước (năm 1958-1965)…

Năm 1965 - 1976: Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Phó chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới của Việt Nam, Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Xô...

Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VI (1946-1981).

Giáo sư Tạ Quang Bửu là người có nhiều cống hiến ở nhiều lĩnh vực ngoại giao, giáo dục, quân sự - quốc phòng, khoa học - công nghệ….

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Với tài năng của mình, tháng 1-1946, Giáo sư Tạ Quang Bửu được giao đảm nhận chức vụ Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Năm 1954, trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Giáo sư Tạ Quang Bửu đã để lại dấu ấn đậm nét trong quá trình đàm phán ký kết Hiệp định Geneve. Những ngày đầu bước vào bàn đàm phán, với vai trò là chuyên viên quân sự của đoàn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu và Đại tá Hà Văn Lâu đã nghiên cứu phương án quân sự của Hội nghị, đó là việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, ngừng bắn, chuyển quân, Pháp rút quân khỏi ba nước Đông Dương. Trong suốt 75 ngày đàm phán cam go, đoàn đàm phán Việt Nam luôn kiên trì bảo vệ các nguyên tắc, lợi ích của Việt Nam và của các bạn chiến đấu của Việt Nam (các lực lượng kháng chiến Lào và Campuchia).

Đúng 24 giờ ngày 20-7-1954, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu, đại diện cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tướng Henry Delteil, đại diện cho Chính phủ Pháp đã cùng ký các hiệp định để đình chỉ chiến sự tại Việt Nam. Ngày 21-7-1954, Việt Nam cùng các bên ra tuyên bố cuối cùng của hội nghị.

Với thắng lợi trên bàn đàm phán Hội nghị Geneve, Giáo sư Tạ Quang Bửu được nhắc tới như là một trong những cán bộ đầu tiên đầy bản lĩnh, tận tụy, vượt khó của nền ngoại giao cách mạng và hiện đại của Việt Nam - nền ngoại giao Hồ Chí Minh.

Năm 1954, trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Giáo sư Tạ Quang Bửu đã để lại dấu ấn đậm nét trong quá trình đàm phán ký kết Hiệp định Geneve. Những ngày đầu bước vào bàn đàm phán, với vai trò là chuyên viên quân sự của đoàn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu và Đại tá Hà Văn Lâu đã nghiên cứu phương án quân sự của Hội nghị, đó là việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, ngừng bắn, chuyển quân, Pháp rút quân khỏi ba nước Đông Dương. Trong suốt 75 ngày đàm phán cam go, đoàn đàm phán Việt Nam luôn kiên trì bảo vệ các nguyên tắc, lợi ích của Việt Nam và của các bạn chiến đấu của Việt Nam (các lực lượng kháng chiến Lào và Campuchia).

Đúng 24 giờ ngày 20-7-1954, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu, đại diện cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tướng Henry Delteil, đại diện cho Chính phủ Pháp đã cùng ký các hiệp định để đình chỉ chiến sự tại Việt Nam. Ngày 21-7-1954, Việt Nam cùng các bên ra tuyên bố cuối cùng của hội nghị.

Với thắng lợi trên bàn đàm phán Hội nghị Geneve, Giáo sư Tạ Quang Bửu được nhắc tới như là một trong những cán bộ đầu tiên đầy bản lĩnh, tận tụy, vượt khó của nền ngoại giao cách mạng và hiện đại của Việt Nam - nền ngoại giao Hồ Chí Minh.

Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Giáo sư Tạ Quang Bửu được cử làm Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (1956-1961). Có thể nói ông là người đặt nền móng cho đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học. Sự phát triển của Đại học Bách khoa Hà Nội gắn với công lao to lớn của Hiệu trưởng Tạ Quang Bửu. Trong giai đoạn này, ông đồng thời đảm nhận chức vụ Phó chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước vào các năm 1958-1965. Đây là thời kỳ ông đặt nền tảng phát triển cho các ngành khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Từ năm 1965-1976, Giáo sư Tạ Quang Bửu là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Trong điều kiện chiến tranh, Giáo sư đã đề xuất dạy những điều cơ bản nhất, hiện đại nhất phù hợp với điều kiện Việt Nam. Từ đó, ông chỉ đạo cải tiến chương trình giảng dạy và quy tụ những nhà khoa học giỏi, các nhà chuyên gia giỏi và các nhà sư phạm giỏi để biên soạn giáo trình mới. Ông cho tổ chức hàng loạt các hội thảo về giảng dạy đại học để nâng cao chất lượng dạy và học ở bậc đại học.

Một đóng góp vô cùng lớn của Giáo sư Tạ Quang Bửu nữa là đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý cho đất nước về sau. Ông chủ trương đưa những người có năng lực học tập, nghiên cứu ra nước ngoài học tập dù đó là con cán bộ hay nông dân và thông qua thi tuyển nghiêm túc công minh. Chính vì vậy, hàng ngàn, hàng vạn thanh niên được ra nước ngoài học tập, nghiên cứu và trở thành lực lượng đông đảo các nhà khoa học tài năng, hàng đầu, các nhà quản lý tài năng của đất nước về sau.

Với năng lực tự học tuyệt vời và đã biết ngoại ngữ nhiều thứ tiếng, uyên thâm ở nhiều lĩnh vực, ông nghiên cứu, viết và phổ biến nhiều tài liệu như: Bắn máy bay bằng súng trường tập trung, Thống kê thường thức, Vật lý cương yếu, Nguyên tử - Hạt nhân - Vụ trụ tuyến, Sóng, Đại số các toán tử, các lý thuyết hệ thống, Hạt cơ bản… Đây là những công trình phổ biến khoa học có lý thuyết ở trình độ cao, có tính gợi ý, mở đường và định hướng cho sự phát triển khoa học ở nước ta, nó giúp nhiều nhà khoa học của ta tiếp cận được với thuyết tương đối, lý thuyết mật mã di truyền, toán học lý thuyết cũng như khoa học vũ trụ.

Đánh giá về Giáo sư Tạ Quang Bửu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Công lao của anh Tạ Quang Bửu - là một nhà khoa học giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ngay từ những ngày chiến đấu còn đầy gian khổ, khó khăn, anh đã quan tâm đến công tác khoa học trong các lực lượng vũ trang, chẳng những đối với ngành Quân giới mà cả Quân y và các ngành khác...”. (Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chiến đấu trong vòng vây – Tổng tập hồi ký - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân năm 2006).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn