Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Bối cảnh và Thử thách "Ngàn cân treo sợi tóc"

Trận đánh căn cứ Đồng Dù (tháng 2/1969) là minh chứng rực rỡ cho nghệ thuật tác chiến "luồn sâu, đánh hiểm" của Binh chủng Đặc công. Dưới sự đùm bọc của nhân dân và hệ thống địa đạo Củ Chi, các chiến sĩ ta đã vượt qua 14 lớp hàng rào kẽm gai, kiên cường bám trụ trong điều kiện khắc nghiệt để giáng đòn bất ngờ vào cơ quan đầu não Sư đoàn 25 Mỹ. Chiến thắng này không chỉ phá hủy hàng loạt phương tiện chiến tranh mà còn khẳng định chân lý: sức mạnh tinh nhuệ của đặc công chỉ thực sự phát huy tối đa

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngay giữa lúc Bộ tư lệnh đặc công Miền bù đầu vào khối lượng công việc đang còn rất nhiều nhằm chuẩn bị cho đựt hoạt động cao điểm mùa xuân, thì đồng chí Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Miền gọi tôi lên giao nhiệm vụ đánh Đồng Dù.

Không khí lúc này thật tất bật, khẩn trương, ai cũng hăm hở chạy đua nước rút vì ngày N đã đến gần. Cũng bởi thế nên khi tôi tới nơi, anh Lê Đức Anh đi vào việc ngay. Hình như anh muốn sau buổi giao nhiệm vụ này, tạo cho cấp dưới có nhiều thời gian triển khai thực hiện.

Anh nói: Thực hiện nghị quyết Trung ương cục và Quân ủy Miền, Bộ tư lệnh Miền quyết định chọn căn cứ Đồng Dù làm một trong những mục tiêu mở đầu của cuộc tiến công trên chiến trường Đông Nam Bộ. Đồng Dù là sở chỉ huy sư đoàn 25 Mỹ nằm trong vùng “tam giác sắt” vì thê mà sẽ có nhiều khó khăn trong chuẩn bị chiến đấu và trong thực hành chiến đấu. Nhưng Bộ tư lệnh Miền đã cân nhắc, khó mấy cũng qua, tổ chức cho được trận tiến công có hiệu quả vào căn cứ này nhằm giáng đòn phủ đầu vào kế hoạch phòng thủ mới của Mỹ và cũng là để rút kinh nghiệm về cách đánh đặc công vào căn cứ lớn, hậu cứ lớn của Mỹ, thực hiện tiêu diệt thật nhiều sinh lực cao cấp của chúng.

Vinh dự, tự hào, lo lắng, băn khoăn, tát cả đã đến hòa nhập trong tôi cùng một lúc.

Đây là dịp tốt thể nghiệm kỹ thuật đặc công chọi với kỹ thuật quân sự Mỹ xem có gì khác với đánh Pháp không. Và nếu khác thì khác ở chỗ nào - như nhiều lần anh Nguyễn Chí Điềm, tư lệnh binh chủng đã nêu ra, đòi hỏi mỗi người chúng tôi từ cương vị tù nhiệm vụ cụ thể khác nhau đều phải có những trả lời, để từ đó rút ra những vấn đề chung, đúc kết thành lý luận nguyên tắc về chiến thuật và nghệ thuật tác chiến đặc công có gì “đặc biệt”.

Sau khi trao đổi với các đồng chí ở nhà về công việc chuẩn bị tôi nhận trách nhiệm chỉ huy số cán bộ từ đại đội đến tiểu đoàn đi làm công tác chuẩn bị từ đầu tháng 1 năm 1969, Đoàn cán bộ điều nghiên chúng tôi. tất cả gần 30 anh em rời Lò Gò vượt đường 22 qua Dương Minh Châu, quẹo phải theo hữu ngạn sông Sài Gòn đến khu địa đạo của huyện Củ Chi, thuộc địa phận xã Phú Hòa Đông. Dựa vào nhân dân, vào cơ sở địa phương, và hầm địa đạo để bám trụ, ém quân thực hiện sáp vô căn cứ. Lần đầu tiếp cận tôi thấy hoi bị choáng ngợp vì so với các căn cứ của quân đội Pháp trước đây thì căn cứ Đồng Dù to, rộng gấp nhiều lần. Ban ngày từ xa nhìn vào như một phố thị, nhà cửa san sát, có đường ngang lối dọc, có ngã ba, ngã tư. Đêm đến căn cứ sáng rực dưới ánh điện các đèn cao áp. Rào kẽm gai được dăng thẳng như hàng rào của một vườn ươm, nuôi thú, kiểu cách, hàng lối thoáng, nhìn không rối mắt nhưng lại đầy hết lớp này đến lớp khác, vô thấu bên trong không phải chuyện dễ. Quanh căn cứ, được phát quang xa 10 cây số để ngăn chặn ta tiếp cận tiến công, pháo kích. Đồng Dù, như tên tư lệnh sư đoàn 25 đóng ở đây thường hãnh diện tự đắc - một trại lính thiết kế như biệt thự.

Cái choáng ngợp ấy trong tôi cũng là tự nhiên buổi ban đầu. Nhưng qua ba ngày ra vào điều nghiên, chúng tôi phát hiện ra nhiều cái yếu. Cán cứ tuy to, nhưng nhiều sơ hở hơn cứ điểm.

Rộng nhưng nhiều tử giác, vượt rào thì vào dễ, phát triển thuận lợi. Tối tiềm nhập vô căn cứ điều tra, ngày chúng tôi xuống địa đạo nằm suy nghĩ, quyết tâm từng bước đã được hình thành trong tôi: Do quy mô và tính chất căn cứ quá lớn, nhiều khu vực, phải sử dụng hết lực lượng vào chiến đấu, không có dự bị. Phía bắc căn cứ là hướng tiến công chủ yếu với lực lượng một tiểu đoàn tăng cường, chia thành bốn mũi; phía nam căn cứ là hướng thứ yếu với lực lượng tiểu đoàn thiếu chia thành ba mũi.

Sau khi bàn bạc trao đổi kỹ với các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn, đại đội đi trong đoàn điều nghiên, chúng tôi nhất trí về phương án tác chiến. Trên cơ sở đó tôi hoàn chỉnh lần cuối bản quyết tâm đó kèm theo sơ đồ minh họa rồi giao cho Ngôn, chính trị viên phó đại đội, có một tiểu đội hộ tống mang về báo cáo Bộ tư lệnh Miền.

Các đơn vị đã ém quân trót lọt.

Chúng tôi nóng ruột chờ đợi lệnh chuẩn bị y cho tiến công của Bộ tư lệnh Miền, đã qua một ngày so với kế hoạch đề nghị mà vẫn chưa thấy gì. Tin đoàn đồng chí Ngôn mang báo cáo về R bị địch phục kích ở đoạn đường Dương Minh Chầu làm nỗi lo ập đến, khiến tôi đứng ngồi không yên. Trận đánh không thực hiện được đã là điều day dứt, phí bao công sức chuẩn bị, bao công phu đưa toàn bộ đội hình luồn sâu vào được đây để ém quân; nhưng nếu để địch đánh hơi thấy, nhất định chúng huy động tối đa lực lượng bủa vây, xăm lùng. Không đánh được địch đã là một thiếu sót, lại để đơn vị bị thương vong thì còn ảnh hưởng lâu dài đến nhiệm vụ.

Thần kinh tôi lại bị căng ra như sợi dây đàn, khi được tin một trung đội trưởng du kích - người đã dẫn đơn vị đến ém quân ở các hầm địa đạo đã bị địch bắt, chúng đánh đập rất dữ và đã moi được tin: Có đặc công từ R về. Tình thế thật trở nên nguy hiểm, có thể nói như ngàn cân treo sợi tóc. Xung quanh lực lượng địch dày đặc, từ đây về lại hậu cứ đâu phải dễ, đường đi đã xa lại phải qua bao hệ thống đồn bót địch, qua những khu tráng địa, nơi tự do bắn phá của phi pháo địch suốt ngày đêm. Chỉ một giờ sau khi moi được tin, địch huy động bộ binh, máy bay, pháo binh càn quét bao vây khu địa đạo chúng tôi ở. Địch đã phát hiện và phá sập một số hầm của ta.

Tránh voi chả xấu mặt nào. Tôi chủ trương né tránh, tìm cách giữ bí mật, bảo toàn lực lượng, không để bất cứ dấu vết gì địch khả nghi nơi đây có “Việt cộng” ém quân.

Đang phải căng thẳng đối phó thì nhận được điện của Bộ tư lệnh Miền: Đã nhận được báo cáo quyết tâm.

Chỉ một dòng ngắn gọn thôi mà như có phép màu làm tôi hết mệt, phấn chấn hẳn lên, sung sướng vô cùng. Như vậy là báo cáo của tôi không bị rơi vào tay địch, có nghĩa là ý định tiến công Đồng Dù không bị lộ, yếu tố bất ngờ vẫn còn. Lòi khai của anh du kích nọ về tin có đặc công về và cuộc vây xăm hai ngày hôm nay của chúng chỉ là việc tìm diệt lực lượng ta, nếu có đánh sập mấy cái hầm cũng là chuyện bình thường vì nơi đây là xứ sở, là quê hương của hầm địa đạo mà. Còn về ta thì vì kế lớn, anh em đã cắn răng chịu đựng, giấu mình thật tốt, nên địch không phát hiện dược gì hơn; và nếu có thì chỉ là những toán “Việt cộng” nhỏ lẻ.

Tôi nghĩ đến Ngôn - người cán bộ chính trị dững cảm và có tinh thần trách nhiệm cao. Sau khi biết anh đã mưu trí thoát khỏi ổ phục kích của địch, băng qua bao nguy hiểm trên một đoạn đường dài, mang được báo cáo quyết tâm của trận đánh căn cứ Mỹ đầu tiên ở mặt trận Đông Nam Bộ về tới Bộ tư lệnh Miền, chỉ chậm có hai ngày so với kế hoạch.

Nhưng một thắc mắc khác lại nảy sinh. Điện của Bộ tư lệnh Miền chỉ báo là đã nhận được báo cáo quyết tâm, chứ không nói gì đến việc phê chuẩn cho thực hiện quyết tâm. Có phải quyết tâm nêu trong báo cáo của chúng tôi là không sát, không bảo đảm chắc thắng! Không, quyết tâm của chúng tôi được xây dựng trên cơ sở nắm khá chắc tình hình, lại đưa ra thảo luận dân chủ bàn bạc cân nhắc rất kỹ. Không thể có điều gì sai sót hoặc phiêu lưu...

Thế thì là vì lẽ gì, tại sao? Cuối cùng mới vỡ lẽ là sở dĩ các anh trên đó chưa phê chuẩn cho thực hiện quyết tâm là vì đã thấu hiểu tình hình lúc này của chúng tôi đang gặp khó khăn, các địa đạo để ém quân đang bị địch bao vây đánh phá.

Đúng là không có lý do gì phải đình hoãn nhiệm vụ. Địch vẫn chưa biết ý đồ của ta. Ta đã vào được đến đây, cách căn cứ địch có vài ba cây số, tạo được thời cơ về không gian - gọi là địa lợi như thế này thật là quý hiếm, là điều kiện thuận lợi cho thắng lợi của trận đánh - đặc biệt với cách đánh của đặc công.

Trong khi chờ đợi Bộ tư lệnh Miền phê chuẩn quyết tâm chiến đấu, chúng tôi tiếp tục tổ chức điều nghiên, vừa để nắm thêm các chi tiết cấu trúc bên trong của căn cứ vừa thăm dò xem địch đã phát hiện ta đến đâu. Bộ phận đánh khu vực để máy bay và cơ giới sau khi tiềm nhập trở ra, nét mặt ai nấy đều vui vì không có biểu hiện gì là địch nghi ngờ ta tiến công, ta nắm chắc hon sự bố phòng của chúng. Anh em đã sờ tận tay từng chiếc máy bay, tìm ra được biện pháp diệt máy bay, sẽ liệng trái vô càng máy bay, toàn thân máy bay sập hỏng là cái chắc. Có đồng chí bò vào thấy phi công trực chiến ngồi trên buồng lái xem báo, trở ra bình luận vui: Ta đánh kiểu này thì thằng địch mất cả chì lẫn chài, vừa phá được máy bay lại diệt được cả bọn lái.

Thấy tình hình diễn biến tốt, anh em vẫn giữ vững khí thế, tôi ngồi dậy viết điện báo cáo về Bộ tư lệnh Miền xin cho được thực hiện quyết tâm chiến đấu càng sớm càng tốt.

Điện chưa kịp đánh đi thì tình hình bỗng trở nên căng thẳng. Những ngày sau đó địch đánh phá rất dữ. Máy bay lên thẳng rà sát mặt nước ở các đầm hồ quanh căn cứ nhằm phát hiện ta kết hợp với các bộ binh càn quét, lùng tìm dấu vết khả nghi. Hay là chúng tôi đã bị lộ? Một câu hỏi lóe lên không có lời giải và cũng không sao đối phó với chiến dịch vây quét của địch, tìm cách sao giấu mình tốt hơn nữa, tránh không để bất cứ một dấu vết gì làm cho địch khả nghi. Mà xóa dấu vết của mấy trăm con người ở không gian hẹp trong các hầm địa đạo không đơn giản tí nào.

Tôi, Minh (tiểu đoàn trưởng) và Lan đi trinh sát thực địa lần cuối trên đường trở về địa điểm ém quân bị địch săn lùng, phải nằm lại ở sinh lầy vì trời sắp sáng. Suốt một ngày vùi mình dưới bùn chỉ để hở hai mắt, mũi và mồm. Bộ binh Mỹ ập đến chỗ Minh, Lan đang nằm, nhưng may có một cái hố sâu ngăn cách, lính Mỹ bỏ cuộc, quay trở lại. Sau này khi trận đánh thắng lợi về hậu cứ nghỉ ngơi, có dịp hàn huyên chuyện cũ, ôn lại những bước gian truân ở Củ Chi - Đồng Dù, anh em đã tặng cho Minh một cái tên ngộ nghịnh: “Minh chuột cống”, vì nhiều lần đi điều nghiên sáp vô căn cứ, lúc trở ra đều phải nằm dưới hốc cỏ để giấu mình chẳng khác nào như chuột cống.

Vất vả gian nan nhưng chúng tôi vẫn có nguồn động viên, ấy là tin rằng mình chưa bị lộ.

Gần đến ngày tiến công, địch càng vây càn dữ dội, dùng chó, dùng trực thăng xăm hầm. Anh em sống căng thẳng đủ thứ. Nằm ở dưới hầm địa đạo hẹp lại đông người, thiếu dưỡng khí, tức thở, rất khó chịu, cổ họng lúc nào cũng như có vật nằm cản, thở vào hít ra đều không hết, lồng ngực như có vật đè. Trong khi đó, tiếng bom đạn địch nổ trên đầu nghe càng inh tai nhức óc (vì nằm dưới hầm địa đạo nghe rất rõ tiếng động ở trên mặt đất, nhưng ở trên mặt đất không nghe được tiếng động ở dưới).

Một ngày sống trong ngột ngạt và tức thở dưới hầm sâu địa đạo, mọi người chỉ mong sao trời chóng tối để mở nắp hầm ngoi lên hít thở khí trời, hơn là mong nước uống, mong cơm ăn, mặc dầu ai cũng đang sống trong cảnh cầm hơi, không dè sẻn thì không có gì ăn, đến ngày nổ súng không đủ sức mà vô căn cứ. Nhưng ngoi lên lại có cái khó chịu của ngoi lên, ít ra là lúc đầu. Ai cũng ngất xỉu, sau 30 phút mới tỉnh, mới minh mẫn tìm cách kéo, đỡ đồng đội lên tiếp. Người thứ hai cũng lại trải qua 30 phút hồi phục sau đó làm nhiệm vụ dìu đỡ đồng đội của mình lên theo. Lên rồi, tất cả đều mệt mỏi, không nói không rằng, sau tỉnh dần và bắt đầu thi nhau khoan khoái. Khỏe lại ăn uống bình thường (chủ yếu là nhai mì ăn liền rồi uống nước lã trừ, thế là xong bữa, chẳng bận bịu, chẳng bếp núc, khói lửa gì, vừa đỡ phức tạp cho công việc điều hành, chỉ huy, vừa đảm bảo an toàn cho đội hình sắp bước vào chiến đấu).

Chúng tôi tiếp tục di chuyển nhích dần đội hình đến vị trí ém quân mới. Lại thu mình chui xuống địa đạo để sống cho đến khi mặt trời lặn, lặp lại công việc của ngày hôm trước. Nhưng rồi chúng tôi bắt đầu thích nghi, quen dần, tỉnh nhanh, thời gian ngây ngất rút ngắn. Nhai mì ăn liền nghe giòn giòn thấy có vị béo bùi nơi đầu lưỡi. Đã có thể ngắm cảnh trăng sao, thưởng thức ngọn gió lành mơn man từ bôn phương tới. Có phút thanh thản hàn huyên, tình đồng đội gắn quyện thêm, ám lòng nhau đi vào trận đánh.

Những đêm đó, tôi có dịp trò chuyện với Đào (Lê Anh Đào) người đồng đội có nhiều gắn bó sau tám năm xa cách nay tình cờ gặp lại, cũng bởi cái tình yêu binh chủng của hai chúng tôi.

Đào là một chiến sĩ đặc công “nòi” của tỉnh Bình Thuận, đã tham gia đánh đặc công hạ đồn Ngã Hai (nam thị xã Phan Thiết bốn cây sô) hồi mùa xuân năm 1952. Đào trở lại chiến trường miền Nam rất sớm, từ tháng 12 năm 1959 với nhiệm vụ rõ ràng - tham gia xây dựng và phát triển lực lượng đặc công ở các tỉnh thuộc khu VI - nơi mảnh đất kiên trung của Tổ quốc, và sau đó anh được điều về đất miền Đông. Đào có mặt trong trận đánh căn cứ Đồng Dù với cương vị phụ trách các lực lượng đặc công sư đoàn 7. Mỗi chúng tôi có những thăng trầm khác nhau, trong đời tư, trong thử thách, nhưng cái giống nhau ở lòng say mê, tình cảm yêu mến và tự hào về binh chủng mình.

Giờ khởi sự đã đến, kết thúc bốn ngày sống ém quân giấu mình dưới các tầng địa đạo. Tầng địa đạo - một kỳ công của cuộc chiến tranh nhân dân đất Củ Chi - đã che chở cho chứng tôi tránh địch và đưa chúng tôi vào trận đánh thắng lợi (tôi sẽ kể với các bạn đọc tỉ mỉ hơn đoạn sau này).

Giờ G kế hoạch là 12 giờ khuya. Nhưng giờ G thực tế có sự thay đổi.

Các mũi đã vào tới hàng rào cuối cùng nhưng một sự cố làm lạnh gáy mọi người. Một mũi ở hướng bắc vướng mìn gây nổ, sau khi đã qua lớp rào thứ 14. Lại một thiếu sót trong khâu huấn luyện, đáng ra khi đạp phải mìn, ngươi tiếp sau lui xuống tiếp tục dò gỡ, nhưng các chiến sĩ ta lại giạt sang bên, nên đạp phải mìn, gây nổ tiếp. Nghe tiếng nổ khác thường, địch tập trung hỏa lực bắn rất dữ vào nơi vừa xảy ra tiếng nổ, vì thế mà mũi này (do đồng chí Ngôn, chính trị viên phó đại đội chỉ huy), đã phải rút ra.

Địch tập trung hỏa lực chủ yếu vào hướng mìn nổ, còn các hướng khác, do kỹ thuật tiềm nhập của ta tốt, địch vẫn chưa phát hiện. Sau khi cân nhắc tình hình, tôi ra lệnh các mũi trưởng cho anh em tiếp tục nhiệm vụ. Sáu mũi còn lại đều đưa được hết lực lượng vào lót sẵn các mục tiêu đã phân công.

Nhìn đồng hồ chỉ đúng 1 giờ sáng, lệnh nổ súng được phát ra theo quy ước, hiệu lệnh tiến công trong trận này là bắn hết một băng đạn AK.

Loạt đạn nổ giòn và đanh! Các mũi theo tiếng nổ của hiệu lệnh, tiến công ào ạt nhanh chóng. Không một tiếng hô reo, chỉ nghe những tiếng nổ đanh liên tiếp, tôi biết anh em đã nghiêm chỉnh thực hiện quy định: khi được dùng bộc phá, thủ pháo đánh vào các mục tiêu được phân công. Do rút kinh nghiệm từ các trận đánh trước, trận này chúng tôi quy định không dùng vũ khí AK để tiêu diệt sinh lực địch vì lính Mỹ đều ở trong nhà, dùng AK bắn chẳng những ít tác dụng mà còn tự mình bộc lộ mục tiêu, địch có thể bắn vào những noi phát ra tiếng nổ, dễ bị thương vong, mặt khác dùng AK trong đêm tối dễ bắn nhầm vào nhau.

Đứng ở một góc thuộc hướng đông - bắc của căn cứ này, lòng tràn đầy phấn khởi vì tôi thấy các mũi tiến công của ta phát triển thuận lợi. Quân địch ở đây hầu như bị tê liệt, ta hoàn toàn làm chủ. Sau này khi trận đánh kết thúc, tin tức từ cơ sở báo ra cho biết, lối đánh bằng bộc phá, thủ pháo của ta rất lợi hại, địch tưởng ta pháo kích thật, cứ thế mà ẩn trốn, không dám đối phó, chính vì lẽ đó nên quá trình chiến đấu trong căn cứ ta phát triển thuận lợi diệt được nhiều địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng ta mà ta thiệt hại không đáng kể so với trận đánh vào Dầu Tiếng cùng thời gian đó.

Sau một giờ chiến đấu quyết liệt, các chiến sĩ đặc công đã đánh thiệt hại căn cứ bộ chỉ huy sư đoàn 25 Mỹ gồm cả khu thông tin, đài ra đa, hai trận địa pháo, sân bay, bãi xe cơ giới, khu hậu cần...

Đã đến giờ chuyển giai đoạn, được lệnh các mũi, các hướng rút theo thứ tự: Xa ra trước, gần ra sau. Khi mũi cuối cùng ở hướng nam ra khỏi hàng rào ngoài cùng và báo hiệu bằng một băng đạn AK bắn chỉ thiên, các trận địa ĐKZ, dàn H.12 của ta được lệnh bắn theo thứ tự: Bắn vào sở chỉ huy trước, tiếp đến vào khu trung tâm thông tin, bãi để xe, pháo và các kho tàng. Bị đánh bồi bằng hỏa lực có sức mạnh, toàn căn cứ chìm trong biển lửa. Tiêng nổ càng dữ dội. Lần này mới là pháo kích thật, địch càng hoảng hốt, đâu nằm đấy, tạo thuận lợi cho ta rút nhanh, nhẹ và an toàn. Khi trời sáng dần, chúng tôi càng nhìn rõ đụn khói từ phía Đồng Dù đang bốc cao, lan rộng. Vành đai cứng phòng thủ Sài Gòn từ hướng bắc của địch đã bị chọc thủng và một căn cứ lớn mà Mỹ dày công xây dựng đang trở thành một đám lửa.

Màn hai của trận đánh được diễn ra khi mặt trời ló rạng. Sự ồn ào bắt đầu về phía địch. Với ta, đó là tổ ba người thuộc mũi 1 ờ hướng chủ yếu phía bắc do lạc hướng không rút theo đơn vị được, trong khi trời đã sáng rõ. Toàn tổ tìm ẩn vào cái cống trên đường đi, lấy đá bịt hai đầu cống vừa để che mắt địch, vừa kiêm công sự - bệ tì bắn địch nếu chúng phát hiện ập đến.

Mặt trời lên cao, số địch còn sống sót trong căn cứ cộng với viện binh từ Sài Gòn vừa tới, chúng tập trung càn quét quanh căn cứ, phát hiện các đường tiến và rút của ta, các vị trí đặt pháo, các mũi đột nhập, các dấu vết di chuyển, v.v... Chúng lần đến nơi ba chiến sĩ ta trụ lại trong cống. Thế là cả bầy quân được lệnh dồn lại, dàn đội hình, hướng hết các mũi súng vào nơi cống. Nhưng không một tên nào dám vào gần, mà chỉ bắn như vãi đạn, xa nghe tưởng như một trận đụng độ lớn. Thỉnh thoảng một tiếng nổ của đạn AK từ đó phát ra khi có tên nào đó bị chỉ huy thúc ép phải đến gần xem xét. Địch quyết bắt sống các chiến sĩ ta, chúng bắc loa gọi hàng với những hứa hẹn đường mật. Vẫn không thấy dấu hiệu mềm yếu nào của đối phương, tiếng loa lại vang lên nhưng không còn hứa hẹn nữa mà là đe dọa. Tức thì một tiếng nổ của đạn AK lại từ đó bay thẳng hướng vào cái loa vẫn đang lên giọng dọa dẫm, thay cho câu trả lời: Không hàng! Sẽ chiến đấu đến cùng!

Bộ mặt thật của quân thù phơi ra. Chúng dùng pháo bắn, chất độc phun vào nơi cống nhỏ...

Ba chiến sĩ ta hy sinh vẫn chặt tay súng hướng nơi kẻ thù, ở tư thế ngồi bắn.

Các mũi hướng đông, có hai chiến sĩ ta cũng lạc hướng. Khi ra tới bưng - một cái bưng ăn thông ra sông Sài Gòn còn đầy nước, thì trời sáng, nhìn rõ mặt người. Hai chiến sĩ ta quyết định nằm lại, toàn thán dìm xuống nước, chỉ để hở mũi và mắt. Nhưng không may đứng ngày nước ròng, người trơ ra giữa lúc một toán lính địch có cả dân vệ và vợ con dân vệ cũng được huy động đi càn ập đến. Thật là một tình thế hiểm nghèo tưởng không thể vượt qua!

Theo sự chỉ đạo của huyện ủy Củ Chi với các cơ sở ở gần các căn cứ địch, nếu đêm ta tiến công căn cứ thì sáng ra, các dồng chí đảng viên, đoàn viên, quần chúng trung kiên ở gần đó phải tim mọi cách hợp pháp đi quanh căn cứ tìm kiếm những chiến sĩ ta bị lạc, bị thương, tử sĩ chưa kịp chuyển hết, đưa về nơi an toàn chăm sóc hoặc chôn cất

Vì đã có kế hoạch họp đồng cùng địa phương như thế nên vừa sáng cơ sở ta cử cả một số trẻ em cũng giả dạng theo nhập vào toán lính địch và gia đình chúng, hùa nhau đi săn lùng “Việt cộng”. Đi trong đoàn săn lùng ra bưng có hai em nhỏ do cơ sở của ta bố trí cùng chạy với sắp con cái lính ngụy. Vừa chạy đến đầu bưng hai em này tinh ý thấy có dấu vết lạ, liền chạy lên trước và cứ thế lao xuống bưng giẫm lên dấu chân có trước để xóa dấu vết. Hai em cũng theo vết chân đó tìm đến cùng, xem có anh giải phóng nào bị thương hoặc lạc đường đang phải giấu mình không, để tìm cách cứu thoát như các bác, các cô đã dặn.

Ra đến giữa bưng thì hai em bắt gặp hai chiến sĩ ta đang nằm đó. Hai chiến sĩ ta hoang mang, chưa biết nên xử trí ra sao, trước tình huống đến nhanh và đột ngột.

Hai em nhỏ tỏ vẻ không để ý, vừa vờ xí phần khoanh vùng tát cá, vừa nói nhỏ với hai chiến sĩ ta: Hai chú cứ nằm yên đây, tụi cháu đắp đất phủ để địch khỏi nghi nghen. Nói rồi hai em vờ tát cá đắp đất phủ lên người hai chiến sĩ ta như một bờ ngăn nước. Vừa đắp, hai em vừa nói tiếp: Hai chú ráng nằm đây, chờ tối tụi cháu dẫn hai chú vô khu có nhiều địa đạo, vùng của ta mà chú!

Cả ngày hôm đó sau chiến thắng trở về, niềm vui trong chúng tôi phải tạm xếp lại, lo đối phó với cuộc bổ vây xăm lùng của quân thù. Địch huy động xe tăng, lính bộ binh và cả chó nữa nhắm bắt bằng được chúng tôi - những người đêm qua đã gây cho chúng một đòn đau, làm thay đổi hẳn cả bộ mặt của cái căn cứ quân sự thuộc loại nhất của Mỹ ở tuyến phòng thủ thép tại bắc Sài Gòn. Chúng lùng sục tận các nơi khả nghi, các đường mòn, vào cả khu ém quân của chúng tôi dưới tầng địa đạo. Vẫn biết là “Việt cộng” đánh đêm hôm qua chưa thể ra khỏi khu này, nhưng càn lùng, dò xăm đủ ngón mà vẫn không thấy một dấu vết khả nghi nào, địch đành chịu cho thu quân.

Không gian yên tĩnh trở lại. Mọi người khấp khởi mong cái giờ phút mở nắp hầm địa đạo để được thỏa thuê thở hít khí trời thì một sự việc không may lại ập đến. Ãy là ở nơi ém quân của tiểu đoàn đồng chí Lan, đã chủ quan, rỡ nắp hầm hơi sớm, vừa lúc ấy một máy bay lên thẳng từ hướng Dầu Tiếng bay qua, phát hiện thấy có dấu vết lạ khả nghi từ mặt đất. Chúng liền quay lại rà thấp khép vòng và gọi điện báo cho các đồn địch ở quanh vùng bổ vây, chờ trời sáng hãy hay.

Thế là cái đêm dự định xả hơi ấy không còn nữa, Một cuộc chiến đấu đơn phương diễn ra rất căng thẳng và ác liệt: Pháo sáng địch thay nhau bay lên, tạo thành một quầng sáng lan rộng một góc trời; đạn pháo bắn ngăn chặn, lúc gần lúc xa, ùng oàng suốt đêm; tiếng động cơ của tàu xuồng phong tỏa mặt sông Sài Gòn đoạn từ Thủ Dầu Một tới Bến Dinh cứ ầm ầm ì ì nghe tức tối. Cho mâi khi trời mới rạng sáng, mặt đất ở nơi chúng tôi ém quân bị rung lên, bị nung nóng bởi các loại đạn địch đổ xuống Máy bay Mỹ thi nhau lượn vòng cắt bom. Xe cơ giới dàn thanh hàng hết cày ngang lại cày dọc. Chúng vây, chúng lùng, chúng xăm bằng thuôn, bằng chó, thấy đâu có hầm, bất kể đó thê nào có người hay không có người, mới đào hay đã cũ sập theo nắng mưa khắc nghiệt, chúng cũng cứ làm theo đúng bài bản là dùng bộc phá đánh sập nắp, dùng chất độc hóa học phun vô cửa. Hùng hổ như thế nhưng cũng có giới hạn. Không một tên lính nào dám xuống hầm cả, dù chỉ là một đoạn ngắn bởi đồng đội của chúng trước đây đã phải trả giá, hoặc bị đạn bắn tỉa, bị thủ pháo, bị chông mìn cụt giò...

Cuộc chiến đấu đơn phương diễn ra suốt ngày và cũng có kết thúc bằng một thông báo “thắng lợi” nghe thật hài hước đăng trên tờ báo “Sao và Vạch” của quân đội Mỹ. Nó hài hước, nó chua chát bởi vì đối thủ của cuộc hành quân đơn phương “quét và giữ” ấy là chúng tôi, thì ngay trong đêm đó vượt khỏi vòng vây địch trở về hậu cứ an toàn.

Hai hôm sau chúng tôi tổ chức lễ mừng chiến thắng. Gọi là lễ cho đúng cái từ quy ước, chứ chiến trường đang nóng bỏng này làm gì cho chuyện đó. Chúng tôi tập họp từng tiểu đoàn riêng lẻ, ở địa điểm trú quân riêng lẻ để nghe thông báo số liệu tổng hợp về kết quả trận đánh, nghe phân tích ý nghĩa trận đánh nhưng cũng rất ngắn gọn, và cuối cùng là đọc lệnh khen thưởng của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam: một Huân chương Quân công hạng nhất cho trận đánh; mỗi tiểu đoàn tham gia trận này là một Huân chương Quân công hạng ba, hơn 40 cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng Huân chương Chiến công, số còn lại - tất cả đều được tặng danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ”. Riêng tôi cũng vinh dự được tặng Huân chương Chiến công hạng nhất.

Lễ mừng chiến thắng đã để lại trong chúng tôi một niềm vui sâu lắng, giúp mình nhìn lại chính minh. Tình cảm vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, lòng yêu binh chủng, sự thành kính của mỗi người đối với Bác kính yêu - Người đã dành một tình cảm, một tấm lòng thật đặc biệt cho binh chủng, và sự hy sinh vô bờ bến của nhân dân Củ Chi - nhân dân đất miền Đông thương yêu tất cả đã tạo thành sức mạnh, cho chúng tôi những trí tuệ cần có để đi vào trận đánh. Anh Lê Đức Anh trong lần giao nhiệm vụ tiếp theo, đã nói ý kiến đánh giá của Quân ủy Miền và Bộ tư lệnh Miền: Chiến thắng Mỹ ở chiến trường Đông Nam Bộ bằng lực lượng đặc công, mở ra khả năng mới - bằng lực lượng đặc công, ta có thể đánh lớn hơn với lực lượng lớn hơn trong chiến đấu độc lập hoặc trong chiến dịch tổng hợp, góp phần cùng các lực lượng vũ trang đánh cho địch nhưng đòn đau hơn, làm chuyển biên tương quan, chuyển biển cục diện có lợi cho ta...

Tôi đón nhận lời biểu dương của Quân ủy Miền và Bộ tư lệnh Miền với một cảm xúc dặc biệt và tự thấy mình cần phải trau giồi, học hỏi, rút kinh nghiệm để xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, quân đội, nhân dân với binh chủng và coi đó là những yêu cầu, những nội dung chức trách của người chỉ huy cần phải có.

Tự tôi suy nghĩ về bài học sâu sắc nhất sau trận đánh Đồng Dù là: Đặc công phải luồn sâu để có thể đánh thẳng vào những căn cứ lớn của địch. Nói cách khác, luồn sâu là một yêu cầu của cách đánh đặc công, từ đó có thể khoét sâu nhược điểm của địch, tạo yếu tố bất ngờ, chắc ăn. Muốn thực hành luồn sâu điều kiện tiên quyết là phải dựa được vào nhân dân, và cơ sở địa phương. 

Mỗi cán bộ, chiến sĩ đặc công phải là hạt nhân của chiến tranh nhân dân, phải dựa vào dân, tổ chức gây cơ sở trong nhân dân phải làm công tác cơ sở, qua đó xây dựng địa bàn ém quân, cung nhân dân chiến đấu.

Hình ảnh sinh động đó được thể hiện trên mảnh đất Củ Chi địa bàn luồn sâu, ém quân của đơn vị đánh Đồng Dù vừa rồi Ngay giữa vùng đất mà địch không tiếc bom đạn biến thành một vành đai trắng hủy diệt, nhưng hơn 200 cây số địa đạo vẫn được đào sâu trong lòng đất, nối liền sáu xã phía bắc huyện. Nhờ đó mà đơn vị đã được bảo vệ an toàn, giữ được bí mật bước vào trận đánh thắng lợi.

Võ Văn Minh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 28 đặc công của sư đoàn 7 tham gia trận Đồng Dù đã kể về một tổ đặc công sau khi trận đánh kết thúc. Một đồng chí bị thương nặng được dìu ra khỏi căn cứ thì trời sáng dần. Đang lúng túng không biết xử trí thế nào thì một ông già từ ấp chiến lược đi ra bắt gặp, nói:

- Các anh khỏi lo, cứ để chú bị thương ở lại đây! Cả tổ đang phân vân thì ông già nói tiếp:

- Trong này cũng có chi bộ mà!

Hai từ “chi bộ” đã có sức thuyết phục, làm cho cả đồng chí thương binh cũng thấy yên tâm, do đó cả tổ đã rút kịp về nơi an toàn.

Ngày hôm sau được tin cơ sở báo ra: Anh thương binh quê miền Bắc được chi bộ hết sức chăm sóc nhưng vì máu ra nhiều, đã hy sinh. Chi bộ đã họp truy điệu và tổ chức lễ mai táng trong đêm.

Trên mảnh đất Củ Chi là như vậy, chi bộ Đảng vẫn bám trụ cùng nhân dân, luôn đi đầu trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù, trở thành linh hồn của cuộc chiến tranh nhân dân địa phương, tạo điều kiện cho lực lượng đặc công chúng tôi hoạt động, chiến thắng...

Chúng tôi đời đời ghi nhớ ơn những người dân trên mảnh đất rực lửa này.

Chúng tôi sẽ mãi mãi không bao giờ quên sức mạnh bắt nguồn từ lòng dân trên mảnh đất anh hùng đã giúp chúng tôi đi tới...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn