Bok Wừu - người Anh hùng chống Pháp
Sau 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vùng Đăk Đoa, Gia Lai giờ đây đang mỗi ngày một đi lên theo nhịp phát triển chung của cả cao nguyên rộng lớn.
Nhà thơ Tạ Văn Sỹ nhớ lại: “Khi bắt được Bok Wừu lần thứ 3, bọn địch muốn thị uy, trấn áp tinh thần của người dân nên đã đưa ông về làng sau khi tra tấn dã man. Về đến làng Tul Đoa, chúng trói ông vào thân cây rồi cắt mũi, xẻo tai và chặt 10 đầu ngón tay khiến ai nấy đều hãi hùng. Vậy mà Bok Wừu không khai lấy một lời. Đã thế còn lớn tiếng kêu gọi: “Đừng sợ, hãy căm thù và đoàn kết đấu tranh diệt cho hết lũ Ayat” (bọn giặc cướp nước). Chúng lồng lộn trả thù ông bằng cách lôi ông xuống suối, chọc lưỡi lê vào mắt và xả đạn. Đêm đó, cả làng đốt đuốc đi tìm, tiếng khóc tiếc thương, sự cảm phục và nỗi căm hờn càng dâng cao khi mọi người tìm thấy người anh hùng của làng mình ở khe suối nhỏ...”.Bốn năm sau khi mất, Bok Wừu được truy tặng Huân chương quân công hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đinh Lan - cô sinh viên người Bana đang theo học ngành quản lý văn hóa tại Đại học Văn hóa - nghệ thuật Quân đội đi cùng chúng tôi đã rơi nước mắt khi nghe chuyện. Bởi dẫu tên ông đã được đặt cho một ngôi trường, một con đường tại tỉnh Gia Lai nhưng những người trẻ không mấy ai biết cặn kẽ về người anh hùng của dân tộc mình. Cô bảo: “Giá như làng Đak Sơ Mei mình có một nhà tưởng niệm Anh hùng Wừu, giống như ở làng Stơr của Anh hùng Núp thì hay biết mấy".
Tiếp nối truyền thống anh hùng
Bok Wừu hy sinh nhưng con cháu Bok còn ở đó. Những người con làng Đê Đoa chưa quên cái chết của người anh hùng. Nằm giữa nanh vuốt địch, dân làng Đê Đoa chẳng những không nao núng mà còn trở thành “địa chỉ đỏ” nuôi giấu, giúp đỡ cách mạng. “Trong kháng chiến chống Mỹ, Đak Sơ Mei là căn cứ của Huyện đội khu III (khi ấy là xã Đak Đoa, huyện Mang Yang), cũng đồng thời là “điểm nóng” của địch. Đồn, bốt được địch bố trí dày đặc. Quanh làng Đê Đoa không ngày nào im tiếng súng, Mỹ - Ngụy còn dựng hẳn một sân bay dã chiến ngay sát làng. Con mắt địch lúc nào cũng chăm chăm hướng vào làng, bởi đây là làng của Bok Wừu - người từng khiến giặc Pháp bao phen chịu cảnh ôm đầu máu. Chúng biết, làng Đê Đoa làm cách mạng, theo cách mạng, chúng phải cảnh giác và để mắt…”, ông Đinh Nhiếp, nguyên là Xã đội trưởng Xã đội Đak Sơ Mei, chậm rãi kể lại.
Noi gương Anh hùng Wừu, suốt những năm tháng chiến tranh sau đó, hết chống Pháp rồi tới Mỹ - Ngụy, người làng Đê Đoa trẻ thì xung phong đi bộ đội, làm dân quân du kích, phụ nữ ở nhà sản xuất, tiếp tế nuôi quân. Người già, trẻ nhỏ xung phong làm liên lạc... Gạo, măng theo chân người lên rừng cho bộ đội: “Có củ măng rừng người Đê Đoa cũng sẻ làm đôi”, ông Đinh Nhiếp nói. Cái tình ấy đối với cách mạng cũng đủ để thấy, thế địch mạnh cỡ mấy cũng chẳng giành được Đê Đoa. Bởi vậy, giữa cơ man đồn bốt, cơ sở của ta vẫn bám trụ được với làng. Những căn cứ bí mật của bộ đội giăng đầy khắp phía: Phía Đông là căn cứ Đak Ding Dung, Đak Muh; phía Bắc là Đak Cơ Pech của Trung đoàn 408 và hàng chục căn cứ khác. Bao trận công đồn giành thắng lợi, ghi dấu đóng góp của người làng Đê Đoa.
Khi quê hương đã sạch bóng quân thù, người Đê Đoa chung tay xây dựng cuộc sống ấm no. Chính quyền địa phương vận động bà con dời làng về trung tâm xã, có điện đường, trường, trạm để thuận lợi phát triển kinh tế và con em Đê Đoa được đến trường học cái chữ. Vậy nhưng, đánh giặc xâm lăng đã khó, để thắng giặc đói, giặc nghèo, giặc dốt cũng khó bội phần. Cái khó bắt đầu từ việc phải thay đổi thói quen, phương pháp cấy trồng.
Ngày ấy, tỉnh có chủ trương đưa cây lúa nước về làng thay cho lúa rẫy mỗi năm một vụ để giúp dân Đê Đoa chóng hết đói, hết nghèo. Nhưng lâu nay, người Đê Đoa quan niệm, cây lúa mọc trên đất khô, Yàng đã sinh ra như thế, giờ lại bắt cây lúa sống dưới nước thì sống sao được mà nói sẽ cho nhiều thóc lúa? Lòng dân Đê Đoa lâu nay tin cán bộ, theo Đảng nhưng khi nghe nói, cây lúa phải trồng dưới nước thì chưa tin. Rồi Yàng sẽ trừng phạt cả làng vì cái tội dám trái ý Yàng.
Sự việc tưởng lâm vào bế tắc, nhưng vì người dân Đê Đoa đã bao năm không tiếc công sức, cơm gạo và cống hiến máu xương cho cách mạng, giờ phải nhanh chóng bắt tay tìm đường sản xuất, để dân đói ấy là có tội với dân, nên các cán bộ xã, thôn đã tích cực đi tuyên truyền, vận động. Dần dà người dân trong làng có vẻ xuôi lòng nhất cùng nhau be bờ, đắp ruộng thử xem sao. Chả mấy chốc, ruộng nước thành hình hài, hạt lúa nảy mầm xanh. Lòng Blứk thấy yên tâm mươi phần. Đến khi thấy lúa lên xanh tốt, chỉ vài tháng đã trổ bông, người làng đã khối người mon men xuống thăm ruộng lúa, vẻ mặt hy vọng…
Vụ lúa nước đầu tiên cả làng không dám tin là nhiều thóc thế. Thóc chắc mẩy, vàng ươm, vụ lúa ấy cả làng mừng rỡ. “Cán bộ nói không sai, người của Đảng chỉ cho dân cách làm hay mà mình không biết…”, người dân trong làng nói với nhau như vậy. Từ vài ba thửa ruộng mẫu ban đầu, đến nay, bao quanh làng là những chân ruộng lúa thẳng tít tắp, xanh ngắt: Cánh đồng Đak Tơ Ngyơ, Đak Tơ Ngoar, Đak Mơ Rang… nối nhau trải rộng. Cả làng có 60 hộ người Bahnar đã có hơn 25ha lúa nước hai vụ, chẳng có nhà nào không biết làm lúa nước nữa. Cái đói lui vào dĩ vãng…
Tiếp nối cây lúa là cây cà phê, cao su, điều rồi hàng loạt các loại cây công nghiệp khác được người dân Đê Đoa mạnh dạn trồng. Giờ đây, nhiều hộ có thu nhập vài chục triệu đồng mỗi năm, có người xây được nhà to, mua sắm tiện nghi đắt tiền. Con cháu Đê Đoa cũng đã có người học hành trưởng thành. Cái quý là, người dân Đê Đoa luôn một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ và theo Bok Wừu -người con ưu tú của làng Đê Đoa. Năm tháng rồi cũng sẽ qua nhưng tinh thần và ý chí kiên cường bất khuất của liệt sỹ Anh hùng Wừu sẽ còn sống mãi.



