Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Bom Bo 1945 - Những Năm Tháng Bất Khuất

Bom Bo 1945 - Những Năm Tháng Bất Khuất

Đồng Nai25/06/2026Huỳnh Văn Phụng (Đoàn Xã Bom Bo)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi là Già làng Điểu Lên, sinh năm 1945 tại sóc Bom Bo, nay thuộc thôn Bom Bo, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Hôm nay, trong đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” do Đoàn Thanh niên tổ chức, ông xin kể lại cho các cháu nghe về mảnh đất sóc Bom Bo thuở ông chào đời và những năm tháng lớn lên trong khói lửa chiến tranh. Các cháu ngồi gần ông một chút, nghe ông kể chậm rãi nhé...

Khi tôi cất tiếng khóc chào đời vào năm 1945, sóc Bom Bo vẫn là một buôn làng S’tiêng yên bình giữa núi rừng Đông Nam Bộ rộng lớn. Rừng già bao quanh, những rặng lồ ô xanh mướt ken dày hai bên suối Đăk Nhau trong vắt. Nhà chúng tôi là những ngôi nhà sàn dài, dựng bằng gỗ rừng, tre nứa và lá tranh. Sàn nhà cao để tránh thú dữ, rắn rết và nước lũ mùa mưa. Ban ngày, tiếng chày giã gạo “cốc... cốc...” vang vọng khắp sóc. Đó là nhịp sống của bà con chúng tôi. Mẹ tôi và các bà, các chị quây quần quanh cối chày đôi, vừa giã gạo vừa hát dân ca S’tiêng. Cha tôi và các chú đi săn, đặt bẫy, hái măng, đào củ mài trong rừng. Cuộc sống tuy vất vả nhưng đầm ấm, bà con đoàn kết, giúp đỡ nhau qua ngày.

Năm ấy, Cách mạng Tháng Tám thành công, tin vui lan đến buôn. Bà con mừng rỡ, thắp đuốc hát múa suốt đêm. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Giặc Pháp trở lại xâm lược. Sóc Bom Bo nằm ở vị trí chiến lược, gần đường số 14, nối liền Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ. Rừng núi ở đây nhanh chóng trở thành nơi che chở cho cán bộ cách mạng và du kích. Cha tôi tham gia kháng chiến chống Pháp từ rất sớm, làm giao liên bí mật.

Thời thơ ấu của tôi gắn liền với rừng và suối. Sáng sớm, mẹ dậy nhóm lửa, giã gạo bằng cối chày. Tôi theo cha mẹ chăn trâu, hái rau rừng, học cách dệt thổ cẩm, biết cách nhận biết dấu vết thú rừng. Lễ hội cồng chiêng, múa lăm vông, uống rượu cần là những lúc cả sóc vui nhất. Bà con vẫn giữ gìn phong tục tập quán của dân tộc S’tiêng: sống chung nhà dài, tôn trọng già làng, yêu quý trẻ con.

Đến năm 1954, sau Hiệp định Genève, giặc Pháp rút đi nhưng giặc Mỹ - Ngụy lại nhảy vào. Bom Bo dần biến thành “căn cứ đỏ”. Cha mẹ tôi và nhiều thanh niên trong sóc bí mật đưa thư từ Bom Bo về Tây Ninh, Phước Long. Năm 1960, một trận dịch lớn khiến sóc Bom Bo phải chia thành Bom Bo 1, Bom Bo 2, Bom Bo 3 để tránh dịch bệnh và giặc càn. Bà con sống rải rác hơn, nhưng tinh thần vẫn một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ.

Những năm 1963-1965 là thời kỳ khốc liệt. Giặc thực hiện “Ấp chiến lược”, dồn dân vào ấp để cắt đứt liên lạc với cách mạng. Chúng càn quét liên miên, đốt nhà, bắt bớ, tra tấn. Nhưng đồng bào S’tiêng Bom Bo chúng tôi thà chết chứ không chịu đầu hàng. Hơn một trăm người, trong đó có gia đình tôi, lén lút băng rừng, vượt suối Đăk Nhau về căn cứ Nửa Lon lập sóc mới. Rừng sâu hun hút, đường đi khó khăn. Chúng tôi khai hoang rẫy, trồng lúa nương, khoai sắn, măng tre để tự túc và nuôi bộ đội.

Đặc biệt là phong trào “Toàn sóc giã gạo nuôi quân”. Những đêm rừng tối om, đuốc lồ ô cháy sáng lập lòe. Cả sóc không phân biệt già trẻ, trai gái đều tập trung quanh những cối chày lớn làm bằng gỗ cây sao. Tiếng chày vang vọng rừng đêm: “Cốc... cốc... cốc...”. Bà con thi đua nhau giã gạo. Chỉ trong ba ngày ba đêm mùa khô năm 1965, chúng tôi giã được hơn 5 tấn gạo phục vụ chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài. Tiếng chày ấy đã truyền cảm hứng cho nhạc sĩ Xuân Hồng sáng tác bài hát “Tiếng chày trên sóc Bom Bo” bất hủ. Các cháu nghe bài hát ấy là nghe cả máu và mồ hôi của Bom Bo chúng tôi đấy!

Từ năm 15 tuổi, tôi đã làm giao liên, lặn lội đưa thư, dẫn đường cho cán bộ qua rừng. Rồi tôi nhập ngũ, cầm súng tham gia trực tiếp khoảng 45 trận đánh, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Ăn sắn rừng, củ mài, măng tre thay cơm. Ngủ rừng, đánh giặc, bảo vệ từng tấc đất Bom Bo. Căn cứ Nửa Lon trở thành “thành đồng” bất khả xâm phạm. Giặc càn đến đâu cũng bị dân quân Bom Bo đánh trả quyết liệt. Tôi vinh dự được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ - Ngụy, Dũng sĩ chống càn, Dũng sĩ diệt ác phá kìm.

Cuộc sống lúc ấy cực khổ lắm các cháu ơi. Không điện, không đường, không thuốc men. Bệnh sốt rét, thương hàn hoành hành. Phụ nữ vừa dệt thổ cẩm may áo cho bộ đội, vừa tham gia canh gác. Trẻ con chúng tôi cũng đưa tin, canh rừng. Nhưng tinh thần “Quân dân một lòng” giúp chúng tôi vượt qua tất cả.

Hôm nay, nhìn sóc Bom Bo khang trang với Khu Bảo tồn Văn hóa Dân tộc S’tiêng hơn 113 ha, nhà dài, cồng chiêng, cối chày được tái hiện, đường bê tông, điện sáng, trẻ em đến trường... tôi không khỏi bùi ngùi. Từ một buôn làng nghèo giữa rừng sâu năm 1945, qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, Bom Bo đã trở thành Di tích Lịch sử Quốc gia, niềm tự hào của dân tộc S’tiêng và toàn vùng Đông Nam Bộ.

Các cháu Đoàn Thanh niên thân mến, thời hoa lửa của chúng tôi là như vậy. Máu và mồ hôi của cha ông đã tưới lên mảnh đất này. Các cháu hãy gìn giữ truyền thống anh hùng của Bom Bo, học tập tinh thần bất khuất của ông cha, để xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh. Ông già này vẫn còn sức kể chuyện, vẫn còn hát vang “Tiếng chày trên sóc Bom Bo” cùng các cháu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn