Khác

Bốn mươi giờ giữ lại chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đất sét

Trong hơn 20 ngày của tháng 5 năm 1946, nữ điêu khắc gia Nguyễn Thị Kim đến Bắc Bộ phủ từ 6 đến 8 giờ sáng, quan sát Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc và nặn nên một bức tượng hiện được công nhận là Bảo vật quốc gia.

Hà Nội22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 5 năm 1946, mỗi buổi sáng, Nguyễn Thị Kim mang dụng cụ và đất nặn tới Bắc Bộ phủ. Bà đến khi ngày làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa bắt đầu, lặng lẽ chọn vị trí quan sát rồi ghi lại diện mạo của Người bằng đôi tay của một nhà điêu khắc.

Mỗi ngày, bà chỉ có hai giờ, từ 6 đến 8 giờ sáng.

Đó không phải những buổi ngồi làm mẫu thông thường. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đọc báo, xem tài liệu và giải quyết công việc. Người nghệ sĩ phải quan sát một gương mặt luôn chuyển động: lúc cúi xuống trang giấy, lúc tập trung suy nghĩ, khi trao đổi với cán bộ đến báo cáo.

Nguyễn Thị Kim không chỉ cần ghi đúng đường nét bên ngoài. Bà còn phải tìm ra thần thái của vị Chủ tịch nước trong những tháng đầu tiên của nền độc lập.

Khi ấy, bà 28 tuổi.

Nguyễn Thị Kim sinh ngày 10 tháng 12 năm 1917 tại Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật. Cha bà là họa sĩ Nguyễn Văn Khải. Từ nhỏ, bà đã được tiếp xúc với hội họa, nhưng con đường đi vào nghệ thuật chuyên nghiệp đối với một phụ nữ Việt Nam đầu thế kỷ XX không hề dễ dàng.

Năm 1937, bà theo học lớp dự thính do họa sĩ Nam Sơn phụ trách tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Hai năm sau, Nguyễn Thị Kim trúng tuyển khóa XIII, học trong giai đoạn 1939–1944.

Điêu khắc đòi hỏi sức lao động khác hội họa. Người nghệ sĩ phải làm việc với đất, thạch cao, gỗ hoặc kim loại; phải hiểu hình khối trong không gian và thường xuyên thực hiện những công đoạn nặng nhọc. Vì thế, số phụ nữ theo học điêu khắc lúc bấy giờ rất ít. Nguyễn Thị Kim trở thành một trong những người phụ nữ đầu tiên bước vào lĩnh vực này một cách chuyên nghiệp.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công. Nhiều văn nghệ sĩ tham gia các hoạt động của Hội Văn hóa Cứu quốc, dùng hội họa, âm nhạc và văn chương để phục vụ đất nước mới. Nguyễn Thị Kim cùng chồng là họa sĩ Phạm Văn Đôn sáng tác tranh cổ động và tham gia công tác văn hóa.

Đến tháng 5 năm 1946, Hội Văn hóa Cứu quốc chuẩn bị tổ chức một cuộc triển lãm kỷ niệm một năm Cách mạng Tháng Tám. Ban lãnh đạo hội cử ba nghệ sĩ tới Bắc Bộ phủ để trực tiếp sáng tác chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung và Nguyễn Thị Kim.

Hai họa sĩ thực hiện chân dung bằng hội họa. Nguyễn Thị Kim đảm nhiệm công việc nặn tượng.

Trước bà không có một khuôn mẫu hoàn chỉnh nào về cách thể hiện Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nghệ thuật điêu khắc của nước Việt Nam mới. Những hình ảnh chính thức về Người còn ít; hình tượng Hồ Chí Minh trong mỹ thuật cách mạng cũng mới bắt đầu được hình thành. Nguyễn Thị Kim phải quan sát trực tiếp và đưa ra lựa chọn nghệ thuật của chính mình.

Trong hơn 20 ngày, bà đều đặn làm việc từ 6 đến 8 giờ sáng. Nếu tính theo khoảng thời gian được Bảo tàng Lịch sử quốc gia công bố, nhà điêu khắc có chừng 40 giờ trực tiếp quan sát và tạo hình.

Bốn mươi giờ để giữ lại một chân dung cho nhiều thế hệ.

Trước mắt bà không phải một nhân vật đứng yên dưới ánh đèn xưởng vẽ. Đó là người đang lãnh đạo một chính quyền mới ra đời và phải xử lý hàng loạt vấn đề sống còn. Nạn đói vừa đi qua, ngân khố gần như trống rỗng, phần lớn người dân chưa biết chữ và các lực lượng nước ngoài vẫn hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam.

Vì vậy, nét trầm tư trên gương mặt Hồ Chí Minh không thể tách khỏi sức nặng của thời cuộc. Nhưng nếu chỉ nhấn vào sự căng thẳng, bức tượng sẽ không phản ánh được vẻ bình thản và gần gũi mà người nghệ sĩ nhìn thấy trong những buổi sáng tại Bắc Bộ phủ.

Nguyễn Thị Kim lựa chọn thể hiện một chân dung bán thân. Khuôn mặt được tạo hình chân thực, không cầu kỳ hóa trang phục hay sử dụng những biểu tượng phô trương. Trọng tâm của tác phẩm nằm ở vầng trán, đôi mắt, gò má và chòm râu – những đường nét đã trở nên quen thuộc với người Việt Nam nhưng lúc ấy vẫn còn rất mới trong nghệ thuật tạo hình.

Đất sét mềm dần mang hình dáng con người. Mỗi lần thêm hoặc gạt đi một mảng đất nhỏ đều có thể làm thay đổi biểu cảm của toàn bộ gương mặt. Nhà điêu khắc phải liên tục nhìn người thật, nhìn tác phẩm rồi điều chỉnh tỷ lệ.

Sau hơn 20 ngày, bức tượng đất sét được hoàn thành. Tác phẩm sau đó được chuyển sang chất liệu thạch cao để có thể lưu giữ lâu dài và đưa ra trưng bày.

Tại Triển lãm Mỹ thuật Tháng Tám, người xem được gặp hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ qua ảnh báo chí mà còn trong một hình khối có chiều sâu và thể tích. Bức tượng trở thành một trong những tác phẩm chân dung Hồ Chí Minh được sáng tác trực tiếp từ mẫu thật trong thời kỳ đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Giá trị của tác phẩm vì thế vượt ra ngoài phạm vi một bài tập chân dung. Nó là dấu vết vật chất của cuộc gặp giữa người nghệ sĩ và một nhân vật lịch sử tại đúng thời điểm quốc gia đang bước qua năm đầu độc lập.

Sau này, Nguyễn Thị Kim tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm như Hạnh phúc, Chân dung cháu gái, Nữ du kích và phù điêu Mười một cô gái thành phố Huế. Từ năm 1959 đến năm 1961, bà nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Mỹ thuật Leningrad ở Liên Xô. Bà cũng tham gia Hội Mỹ thuật Việt Nam và đảm nhiệm nhiều công việc trong giới văn nghệ.

Năm 2000, Nguyễn Thị Kim được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật cho một nhóm tác phẩm tiêu biểu, trong đó có tượng đồng Chân dung Bác Hồ.

Ngày 1 tháng 12 năm 2011, bà qua đời, chỉ còn ít ngày nữa là tròn 94 tuổi.

Bức tượng được sáng tác năm 1946 hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Tác phẩm đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia. Đây vừa là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị, vừa là hiện vật gốc gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh và thời kỳ đầu xây dựng nhà nước độc lập.

Nhìn lại câu chuyện, điều đáng nhớ không chỉ là việc Nguyễn Thị Kim được gặp và nặn tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đặc biệt còn nằm ở cách bà làm việc: hơn 20 buổi sáng, mỗi buổi hai giờ, quan sát một con người trong trạng thái tự nhiên nhất – khi đang đọc báo và điều hành công việc.

Không có một nghi lễ long trọng nào diễn ra trong căn phòng ấy. Một người lãnh đạo làm việc. Một nữ nghệ sĩ trẻ lặng lẽ nặn đất. Nhưng từ cuộc gặp bình dị đó, lịch sử đã được giữ lại bằng hình khối.

Máy ảnh có thể ghi một khoảnh khắc trong phần nhỏ của giây. Điêu khắc lại cần thời gian, sự quan sát và ký ức của đôi tay. Bốn mươi giờ lao động của Nguyễn Thị Kim đã làm nên một chân dung tồn tại qua tám thập niên, để hôm nay người xem vẫn có thể đứng trước tác phẩm và hình dung những buổi sáng tháng 5 năm 1946 tại Bắc Bộ phủ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn