Anh hùng Lao động

Bốn mươi người phụ nữ và trại lợn giữa thời chiến

Trong những năm Hải Phòng bị đánh phá, Lương Thị Mái cùng 40 phụ nữ tổ chức chăm sóc từ 500 đến 700 con lợn tại Hợp tác xã Đông Phong. Trại chăn nuôi mỗi năm cung cấp 5–6 tấn thịt và hàng trăm tấn phân bón, trở thành mô hình được phổ biến khắp miền Bắc.

TP. Hồ Chí Minh22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữa những năm 1960, trong khi Hải Phòng trở thành mục tiêu đánh phá của không quân Mỹ, tại một hợp tác xã ngoại thành, 40 người phụ nữ vẫn hằng ngày chăm sóc một đàn lợn có lúc lên tới 700 con.

Người phụ trách tổ chức công việc là Lương Thị Mái.

Bà sinh ngày 1 tháng 1 năm 1941 tại thôn Lương Xâm, xã Nam Hải, huyện An Hải, Hải Phòng, trong một gia đình nông dân có tám người con. Bà là con gái duy nhất. Hai người anh em trong gia đình sau đó hy sinh trong kháng chiến.

Từ nhỏ, Lương Thị Mái đã quen với công việc đồng áng và chăm sóc các em. Khi trưởng thành, bà vừa lao động sản xuất, vừa tham gia lớp Bình dân học vụ và hoạt động đoàn thể tại địa phương.

Sau năm 1954, miền Bắc bước vào quá trình khôi phục kinh tế và xây dựng hậu phương. Tại các hợp tác xã nông nghiệp, tăng sản lượng lương thực và thực phẩm trở thành nhiệm vụ cấp thiết.

Chăn nuôi lợn khi ấy không chỉ cung cấp thịt cho người dân.

Phân chuồng còn là nguồn phân bón quan trọng cho đồng ruộng, trong bối cảnh phân hóa học chưa phổ biến và khả năng cung cấp còn hạn chế. Nếu trại chăn nuôi hoạt động tốt, hiệu quả tạo ra sẽ nối tiếp từ chuồng trại ra đến cánh đồng.

Nhưng nuôi tập trung hàng trăm con lợn không phải việc đơn giản.

Thức ăn phải được chuẩn bị đều đặn; chuồng phải giữ sạch để hạn chế dịch bệnh; con giống, trọng lượng và tình trạng sức khỏe của đàn vật nuôi phải được theo dõi. Chỉ một đợt bệnh lây lan cũng có thể làm mất công sức của cả tập thể.

Lương Thị Mái bắt đầu từ vị trí xã viên tại Hợp tác xã Nam Hòa, sau là Hợp tác xã Đông Phong. Bà luôn tìm hiểu những phương pháp chăn nuôi hiệu quả hơn, học từ kinh nghiệm thực tế và kiến thức kỹ thuật.

Năm 1962, bà được kết nạp vào Đoàn Thanh niên rồi trở thành cán bộ phụ trách trại chăn nuôi.

Tại Hợp tác xã Đông Phong, đội chăn nuôi phần lớn là phụ nữ. Có thời điểm khoảng 40 chị em phải chăm sóc từ 500 đến 700 con lợn.

Để công việc không rơi vào tình trạng người làm nhiều, người làm ít hoặc bỏ sót vật nuôi, Lương Thị Mái tổ chức lại từng phần việc. Người chuẩn bị thức ăn, người vệ sinh chuồng, người theo dõi đàn lợn; tình trạng bất thường phải được phát hiện và xử lý sớm.

Bà vận động chị em học kỹ thuật thay vì chỉ nuôi hoàn toàn theo thói quen cũ. Cách phối trộn thức ăn, giữ vệ sinh, phòng bệnh và tận dụng nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương được điều chỉnh qua thực tế.

Trại chăn nuôi dần chuyển từ một bộ phận tiêu tốn nguồn lực thành đơn vị có lãi.

Mỗi năm, trại cung cấp cho Nhà nước khoảng 5–6 tấn thịt. Đồng thời, hàng trăm tấn phân chuồng được đưa ra đồng ruộng, góp phần tăng năng suất cây trồng của hợp tác xã.

Nhờ kết hợp chăn nuôi với trồng trọt, năng suất lúa tại địa phương vượt mức năm tấn trên một hécta. Năm 1967, Hợp tác xã Đông Phong trở thành đơn vị điển hình về chăn nuôi lợn của thành phố Hải Phòng.

Mô hình và những sáng kiến của Lương Thị Mái không chỉ được áp dụng trong hợp tác xã.

Kinh nghiệm của bà được giới thiệu tại các hội nghị chuyên đề và phổ biến ra nhiều địa phương miền Bắc, góp phần thúc đẩy phong trào nuôi lợn tập thể và trong từng gia đình.

Đây cũng là giai đoạn phong trào “Ba đảm đang” phát triển mạnh trong phụ nữ miền Bắc. Phụ nữ vừa đảm nhiệm sản xuất, vừa chăm lo gia đình, vừa tham gia phục vụ chiến đấu khi nam giới lên đường ra trận.

Đối với Lương Thị Mái, “đảm đang” không có nghĩa là chỉ làm nhiều hơn bằng sức lực.

Bà chủ động học văn hóa, tìm hiểu khoa học kỹ thuật và nâng cao kiến thức về thú y. Từ một xã viên làm đồng, bà trở thành cán bộ thú y của huyện An Hải, có khả năng hướng dẫn chuyên môn cho nhiều cơ sở chăn nuôi.

Ngày 3 tháng 8 năm 1964, bà được kết nạp vào Đảng và sau đó tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ xã Nam Hải.

Khi chiến tranh phá hoại lan đến Hải Phòng, việc duy trì sản xuất thực phẩm càng trở nên khó khăn và quan trọng. Thành phố phải bảo đảm đời sống cho nhân dân, công nhân các nhà máy, lực lượng phòng không và những đơn vị làm nhiệm vụ vận tải.

Một trại lợn hoạt động ổn định vì thế cũng là một phần của hậu phương chiến tranh.

Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Lương Thị Mái được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Bà là một trong những phụ nữ tiêu biểu được tuyên dương tại Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ tư ở Hà Nội.

Khi nhận danh hiệu, bà mới 26 tuổi.

Phía sau người phụ nữ trẻ ấy là một tập thể 40 chị em, những người hằng ngày bước vào chuồng trại, chuẩn bị thức ăn và bảo vệ đàn vật nuôi khỏi dịch bệnh. Công việc của họ không có tiếng động cơ lớn của nhà máy hay sự hiểm nguy dễ nhìn thấy trên chiến trường.

Nhưng kết quả có thể đo được rất rõ: hàng trăm con lợn, hàng tấn thịt, hàng trăm tấn phân bón và những cánh đồng tăng năng suất.

Lương Thị Mái mất năm 2006. Câu chuyện của bà gợi nhớ rằng hậu phương miền Bắc trong kháng chiến không chỉ được dựng nên bởi những nhà máy và tuyến vận tải.

Hậu phương ấy còn được duy trì từ những chuồng trại, cánh đồng và đôi tay của những người phụ nữ trẻ.

Trong khi người thân của họ chiến đấu ngoài mặt trận, họ giữ cho sản xuất không bị ngừng lại, để từng bữa ăn và từng mùa lúa tiếp tục nuôi sức người cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn