BÔNG HỒNG KIÊN CƯỜNG SAU SONG SẮT HOẢ LÒ

Trong bối cảnh những năm kháng chiến chống Pháp đầy máu lửa của dân tộc, có một nơi ngục tù đã hành hạ không biết bao nhiêu người con yêu nước, giết chết bao ước mơ dang dở; Đó là Nhà Tù Hoả Lò. Nơi đây được mệnh danh là “ địa ngục trần gian”, nổi tiếng với những Xà-lim chật hẹp, máy chém tử thần và chế độ bốc lột con người vô cùng vô nhân đạo. Được Pháp xây dựng vào những năm 1896, tại ngay thủ đô Hà Nội; ngục tù này được dùng làm nơi giam giữ những tù nhân chính trị, nhằm mục đích làm nhụt chí dân ta, lấy thông tin và hành hạ họ. Nhưng dù giam giữ được thể xác, nhưng mãi mãi không thể nào giam giữ và giết chết đi được một tâm hồn luôn hướng về đất nước. Trong thời kì đó có những con người dù chỉ là người dân bình dị, vô danh giữa đời thường. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, dù là nông dân hay trí thức, dù là nam nữ hay già trẻ; bất kể đối tượng, chỉ cần trong tim có quê hương thì luôn sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ, xương máu và thậm chí là cả cuộc đời mình. Sự phi thường của họ là những khi đấu tranh, là những lần máu đổ, là nỗ lực không ngừng; dù không chắc sẽ được ghi danh, dù phải chịu muôn vàn gian khổ, họ vẫn quyết chiến vì hai chữ “ độc lập” . Trong đó có những hình ảnh của những người phụ nữ Việt Nam hiện lên như những “đoá hoa thép”. Vẻ đẹp của họ nằm ở tình yêu nước nồng nàn và ý chí kiên cường, bền bỉ của họ. Họ là những đoá hoa dù trông có vẻ mong manh, dễ vỡ nhưng thực chất lại vô cùng mạnh mẽ và chẳng thua một ai. Từ người mẹ, người chị nơi hậu phương đến những nữ chiến sĩ nơi tiền tuyến, những nữ tù chính trị bị đầy đoạ, họ đều mang trong mình một khát khao da diết, đó là khát khao hoà bình!
Trong thời kỳ thực dân Pháp tạm chiếm Hà Nội, phong trào học sinh kháng chiến phát triển mạnh với nhiều cuộc biểu tình, kêu gọi,...Tiêu biểu nhất trong thời kì này là cuộc bãi khóa diễn ra trong 12 ngày của hơn 4.000 học sinh, sinh viên và lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn, đã mở đầu cho cao trào học sinh kháng chiến những năm 1949-1950. Nổi bật trong phong trào năm ấy là cô nữ sinh Đỗ Hồng Phấn khi ấy mới chỉ 16 tuổi, cô sinh năm 1933 và là một người con của mảnh đất Hà Nội. Cô từng theo học trường Quốc lập Trung học hiệu Chu Văn An (nay là trường phổ thông trung học Chu Văn An), tuy học ở ngôi trường khác nhưng do được Thành Đoàn tin tưởng nên cô được phân công làm Bí thư Chi đoàn học sinh Kháng chiến Trường nữ sinh Trưng Vương vì trường lúc ấy chỉ có cấp cơ sở, học sinh còn ít tuổi, khó có thể tham gia vào những cuộc biểu tình đầy nguy hiểm. Cô nữ sinh năm ấy tham gia vào các phong trào vô cùng sôi nổi, hăng hái như đưa thư vận động bãi khóa, in truyền đơn, ném truyền đơn,... hoạt động tích cực trong Đoàn học sinh kháng chiến. Trong quá trình hoạt động, Hồng Phấn được bồi dưỡng thêm kiến thức về Đảng, về phong trào của giai cấp vô sản… Đến đầu tháng 6/1950, Hồng Phấn nhận được tin cô sẽ được kết nạp vào Đảng. Theo điều lệ thì chưa đủ tuổi, nhưng do hoàn cảnh đặc biệt ở địch hậu, mười sáu tuổi rưỡi vẫn được kết nạp. Khi được kết nạp vào Đảng, cô đã được dặn dò rằng "Trong vùng địch hậu, rất có thể lúc nào đó bị địch bắt, tra tấn, nhưng đã là Đảng viên thì kiên quyết giữ vững khí tiết, phải sẵn sàng vượt qua mọi chông gai, thử thách". Và cô đã sống đúng như vậy, quật cường và chưa bao giờ từ bỏ đi niềm tin của mình cũng như chưa bao giờ quên lời dặn dò khi ấy. Đầu năm học 1950-1951, khi chiến thắng biên giới đang vang dội, chi đoàn Học sinh kháng chiến Trưng Vương của bà Phấn đã hân hoan đưa ra kế hoạch mừng chiến thắng bằng các hoạt động như treo lá cờ đỏ sao vàng bằng vải, đốt pháo ăn mừng, rải truyền đơn…vào ngày 7/11/1950. Cuộc ăn mừng đã thành công trọn vẹn nhưng hàng loạt học sinh Trưng Vương đã bị bắt ngay tại trường. Cô Phấn dù tham gia lên kế hoạch nhưng vì học bên trường Chu Văn An nên cô không biết về việc bị bắt. Trên đường tan học cô đạp xe đến nhà một ủy viên Ban Chấp hành chi đoàn trường Trưng Vương để hỏi tình hình nhưng chưa chuyện trò được mấy câu thì mật thám đã xuất hiện và bắt giữ cô. Trong nhà giam của sở Mật thám, cô Phấn cũng như nhiều người khác phải trải qua những cuộc tra tấn bằng máy quay điện, đánh đập dã man,... Toàn thân cô run rẩy trước những luồng điện giật nhưng cô kiên quyết không khai điều gì. Sẵn có bát ăn cơm, cô đập vỡ ra, cắt mạch máu tay để tự tử. Khi biết sự việc, lính Pháp đã đưa cô vào nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt Đức) để chữa trị và sau khi hồi phục cô bị chuyển đến trại giam nữ Nhà Tù Hoả Lò. Ở đây, cô đã gặp gỡ rất nhiều những chị em khác, họ đùm bọc và bảo vệ lẫn nhau khỏi quân giặc tàn bạo. Chỉ khi ấy, cô mới thực sự trở lại làm một cô nữ sinh, một cô gái vốn dĩ được yếu mềm, được đi học, được tự do mà không phải gồng mình chống chọi trước những trận đòn, những cú đánh, áp lực tinh thần khủng lồ của bọn lính Pháp. Sau đó cô lại bị chuyển vào căn phòng biệt giam, ngăn cách cô với mọi sự quan tâm, buộc cô phải trở nên thật cứng rắn một mình. Cô tiếp tục bị tra tấn bằng nhiều cách, sau hơn 2 tháng bị giam tại Nhà tù Hỏa Lò, thực dân Pháp đã trả tự do cho cô vào ngày 21/1/1951, do chưa đủ 18 tuổi.
Nhìn vào tấm gương ấy, ta càng thêm trân trọng những người phụ nữ trong gia đình mình. Bà, mẹ hay chị dù không phải ai cũng bước vào “ngục tù” hay đối mặt tra tấn, nhưng họ vẫn luôn mang trong mình sự bền bỉ, hy sinh và lòng yêu thương sâu sắc. Nếu Đỗ Hồng Phấn kiên trung nơi ngục tối, thì người bà, người mẹ người chị ta cũng luôn âm thầm chịu đựng nhọc nhằn, tần tảo, mạnh mẽ trước những thử thách của cuộc sống. Dù là những thế hệ phụ nữ khác nhau nhưng họ luôn có điểm chung về tinh thần kiên trì, luôn sẵn sàng tiến bước trước những thách thức của thời đại. Và đặc biệt hơn cả là họ đều là những người phụ nữ Việt Nam, mang trong mình dòng máu của sự tự hào đã được rèn dũa qua bao đời nay. Tinh thần ấy, đức hy sinh và trái tim đầy yêu thương chính là sợi chỉ đỏ nối liền các thế hệ phụ nữ Việt Nam. Và từ câu chuyện của Đỗ Hồng Phấn, ta hiểu rằng sức mạnh lớn lao đôi khi bắt đầu từ những con người nhỏ bé, từ những cô gái tuổi mười sáu mang trong tim một niềm tin không gì có thể khuất phục.
Một trong những nữ tù nhân nữa nổi bật trong nhà tù Hoả Lò với ý chí son sắt, kiên cường và đã có nhiều cống hiến cho cách mạng. Đó chính là bà Hoàng Thị Ái, một nữ chiến sĩ cộng sản kiên trung, đồng thời là nguyên Phó Chủ tịch Hôi Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và đã từng dũng cảm, không bị khuất phục trong tù ngục. Bà được sinh ra trong một gia đình Nho học, vốn có học thức và nhận thức cao từ nhỏ. Bà lớn lên trong quá trình bị thống trị dưới ách đô hộ của Pháp nhưng bà đã sớm nhận thức được nỗi khổ của dân tộc, sự áp bức của thực dân vậy nên bà đã tham gia cách mạng từ năm 1927 và trở thành một trong những đảng viên cộng sản đầu tiên. Bà thể hiện ý chí quyết tâm theo Đảng lớn và là một người yêu nước không may đã bị thực dân Pháp bắt giam. Từ lúc bà tham gia phong trào bình dân bán công khai ở Quảng Trị sau đấy đến tháng 5 năm 1940, bà đã bị mật thám Pháp bắt ở Tu-ran, Đà Nẵng. Và do không tìm được chứng cứ nên Toà án địch tại Đà Nẵng đã kết án bà 2 năm tù giam rồi đưa ra Hà Nội. Đến Hà Nội thì toà án binh đã tăng án lên 5 năm tù và chuyển bà về giam tại nhà tù Hoả Lò. Tại đây, bà Hoàng Thị Ái bị giam tại phòng giam tập thể trong trại giam Nữ của nhà tù. Phòng giam khi đó giam khoảng 40 người, với không gian chật hẹp, hà khắc. Trong thời gian bị giam tại nhà tù Hỏa Lò, bà vẫn nêu cao tinh thần kiên trung, bất khuất trước những kẻ thực dân. Để tổ chức cuộc sống hàng ngày và giúp đỡ lẫn nhau, nữ tù nhân nhà tù Hoả Lò đã bầu ra một ban phụ trách chung và dưới ban này có các tiểu ban giúp việc như tiểu ban đối ngoại, nội trợ, trật tự, cứu tế. Với vai trò của mình thì bà Hoàng Thị Ái thường xuyên vận động các nữ tù nhân tham gia đấu tranh chống chế độ nhà tù hà khắc. Bà đồng thời có dáng người nhỏ, tóc búi, giọng nói Quảng Trị ấm áp, luôn gần gũi, hòa đồng với mọi người nên trong nhà tù, bà cũng được các nữ tù nhân khác quý mến, bà còn được gọi với cái tên thân thương khác là “chú Ái”. Bà cũng là một trong số nữ tù nhân đã tham gia vào cuộc vượt ngục khi Nhật đảo chính Pháp. Sau khi được trả tự do thì bà cũng đã tiếp túc tham gia vào nhiều hoạt động cách mạng như làm Bí thư Phụ vận Trung bộ và Xứ uỷ viên Xứ ủy Trung kỳ, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Trị; Khu ủy viên và Bí thư Phụ vận khu 4, công tác tại Hội Liên hiệp Phụ nữ Trung ương, giữ chức vụ Bí thư Đảng đoàn Phụ nữ Trung ương, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và nhiều hoạt động khác. Do có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bà đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác cho công lao của bà.
Có thể thấy rằng, bà Hoàng Thị Ái chính là một biểu tượng của một người phụ nữ anh hùng vừa có ý chí mạnh mẽ, mà lại còn có trái tim ấm áp nhân hậu biết cống hiến. Một tấm gương mẫu mực để noi theo, con cũng thấy rằng bà giúp con thấy rằng sự hy sinh lớn lao của bà cho Đảng cho nhà nước. Điều đó giống như tình thân của một người mẹ dám hy sinh, yêu thương cho người con mà mình yêu thương và tin yêu vậy. Con đã liên tưởng đến hình ảnh mẹ con, một người có vai trò lớn trong gia đình khi mẹ đã tự bước trên đôi chân của mình và cố gắng nuôi nấng ông bà, em trai và bây giờ là con cái. Con ngưỡng mộ cái ấm áp, ân cần của mẹ khi mẹ vào bếp, nói chuyện với mọi người và cách mẹ dành sự chăm sóc quan tâm đến con. Mẹ luôn là một ngọn lửa rực rỡ mang trong mình một trái tim không bé nhưng cũng không lớn mà đủ để bảo vệ gia đình của mình. Mẹ sẽ là người đứng lên nếu có ai ngoài kia tác động đến gia đình hay điều gì mà mẹ trân trọng. Vì thế nên mẹ luôn là một người phụ nữ mà con ngưỡng mộ giống như các hình ảnh của những người phụ nữ anh hùng vậy.
Tóm lại, những hình ảnh của những người phụ nữ anh hùng luôn đến từ ý chí, tinh thần bất khuất đối với tình cảnh éo le. Mỗi sự hy sinh, mỗi tiếng nói đều hình thành nên một dân tộc lớn mạnh và những người nữ tù nhân tại nhà tù Hỏa Lò đã chứng minh được điều đó. Một sự anh dũng không phải ai cũng dám làm, nhưng đó chính là cách duy nhất để vượt lên tình thế và đi theo lí tưởng cao đẹp hơn. Những trái tim nhân hậu đó đã phần nào để lại cho chúng ta một mảnh kí ức lịch sử khó phai với dấu ấn đặc biệt về sự hy sinh và tinh thần vượt lên trong thời cách mạng, kháng chiến. Đó cũng là một hình ảnh đẹp đẽ, ý nghĩa mà những nữ tù nhân tại nhà tù Hỏa Lò đã để lại cho chúng ta.



