Bóng hồng thép giữa lòng Sài Gòn và trận đánh chấn động Dinh Độc Lập năm Mậu Thân 1968 - Hồi ức của nữ biệt động Vũ Minh Nghĩa (Chín Nghĩa)
Trong sử thi hào hùng của dân tộc Việt Nam, Biệt động Sài Gòn luôn là một huyền thoại với lối đánh "xuất quỷ nhập thần" ngay giữa sào huyệt của đối phương. Rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, một đội gồm 15 chiến sĩ biệt động đã làm nên một trận đánh kinh thiên động địa khi trực tiếp tấn công vào Dinh Độc Lập - cơ quan đầu não được bảo vệ nghiêm ngặt nhất của chính quyền Sài Gòn. Trong số 15 chiến sĩ quả cảm ấy, chỉ có một người là nữ. Bà là Vũ Minh Nghĩa (bí danh Chín Nghĩa), một cô gái khi ấy
1. Từ cô gái giao liên đến chiến sĩ của lực lượng đặc biệt
Vũ Minh Nghĩa sinh năm 1947 tại một vùng quê nghèo thuộc tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Sống trong cảnh đất nước bị chia cắt, tận mắt chứng kiến những bất công, đàn áp của chính quyền cũ đối với những người dân vô tội và những gia đình có truyền thống cách mạng, ngọn lửa yêu nước sớm nhen nhóm trong lòng cô thiếu nữ nhỏ bé. Năm 1964, khi phong trào đấu tranh tại đô thị miền Nam bắt đầu dâng cao, bà bí mật thoát ly gia đình, gia nhập lực lượng Biệt động Sài Gòn – một lực lượng chiến đấu mang tính chất đặc biệt tinh nhuệ của Quân Giải phóng.
Biệt động Sài Gòn không giống như bộ binh chính quy chiến đấu ngoài mặt trận. Chiến trường của họ chính là những con hẻm chằng chịt, những khu chợ sầm uất, những ngã tư đông đúc người qua lại. Vũ khí của họ không chỉ là súng đạn mà còn là vỏ bọc hợp pháp, là sự nhanh trí và bản lĩnh sắt đá.
Những ngày đầu, bà Chín Nghĩa nhận nhiệm vụ làm giao liên, chuyên chuyển tài liệu mật và dẫn đường cho cán bộ ra vào nội thành. Với dáng vẻ của một cô gái Sài Gòn hiền lành, giản dị, không ai ngờ rằng bên dưới những gánh rau, giỏ trái cây hay thậm chí giấu trong tà áo bà ba của cô lại là những chỉ thị tối mật hoặc kíp nổ, lựu đạn.
Bà Chín Nghĩa bồi hồi nhớ lại quãng thời gian nằm gai nếm mật: "Làm biệt động là xác định gửi một nửa sinh mệnh cho tử thần. Sống giữa bầy sói, chỉ một ánh mắt mất bình tĩnh, một lời nói hớ hênh là có thể bị bắt, bị tra tấn đến chết. Chúng tôi ban ngày là người buôn bán, là thợ may, là học sinh, nhưng đêm xuống lại đào hầm giấu vũ khí, nghiên cứu mục tiêu. Kỷ luật của biệt động cực kỳ nghiêm ngặt: Tuyệt đối giữ bí mật, không được hỏi những gì không thuộc nhiệm vụ của mình, và nếu bị bắt, thà cắn lưỡi tự sát chứ không bao giờ phản bội tổ chức."
Nhờ sự mưu trí và can đảm, bà được cấp trên tin tưởng, cử tham gia khóa huấn luyện quân sự đặc biệt tại Củ Chi để chuẩn bị cho một chiến dịch mang tầm vóc lịch sử. Tại đây, cô gái vóc dáng mảnh mai đã học cách tháo lắp súng AK nhắm mắt cũng làm được, học cách sử dụng mìn bộc phá, kỹ năng chiến đấu trong đô thị và cả những đòn võ thuật cận chiến.
2. Đêm giao thừa lịch sử và mệnh lệnh tấn công Dinh Độc Lập
Cuối năm 1967, không khí chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân diễn ra vô cùng khẩn trương nhưng bí mật tuyệt đối. Lực lượng Biệt động Sài Gòn được giao một sứ mệnh lịch sử: Bất ngờ tấn công, đánh chiếm và tử thủ tại các mục tiêu đầu não của địch như Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Đài Phát thanh, Bộ Tổng tham mưu... để chờ quân chủ lực từ bên ngoài tiến vào tiếp quản.
Đội 5 Biệt động của bà Chín Nghĩa (gồm 15 người do đồng chí Tô Hoài Thanh - bí danh Ba Thanh chỉ huy) nhận nhiệm vụ khó khăn nhất: Đánh vào cổng Dinh Độc Lập trên đường Nguyễn Du. Dinh Độc Lập lúc bấy giờ là pháo đài bất khả xâm phạm, được bảo vệ bởi hàng rào lính gác, xe bọc thép, hệ thống phòng không và lực lượng phòng vệ phủ Tổng thống cực kỳ tinh nhuệ.
Tối 30 Tết (tức rạng sáng 31/1/1968), Sài Gòn chìm trong không khí đón xuân. Tiếng pháo nổ giòn giã khắp các nẻo đường che lấp đi những biến động ngầm đang sục sôi. 15 chiến sĩ Đội 5 tập trung tại một cơ sở bí mật trên đường Trần Quý Cáp (nay là đường Võ Văn Tần). Họ mở những hầm bí mật giấu vũ khí, mặc quân phục, nai nịt gọn gàng. Trước giờ xuất phát, chỉ huy Ba Thanh trải lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng lên bàn. 15 con người, 15 ánh mắt rực lửa, cùng đặt tay lên lá cờ thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
"Lúc đó, anh em chúng tôi ôm lấy nhau. Ai cũng biết trận đánh này đi dễ khó về, đối đầu với một lực lượng đông gấp trăm lần, trang bị hiện đại gấp ngàn lần. Nhưng không một ai chùn bước. Lòng tự hào được giao nhiệm vụ đánh vào sào huyệt cao nhất của địch lấn át mọi nỗi sợ hãi cá nhân. Tôi là nữ duy nhất, các anh hay nhường nhịn, nhưng tôi xin được cầm súng AK đi hàng đầu," bà Chín Nghĩa kể lại, giọng nói rưng rưng tự hào.
Đúng 1 giờ 30 phút sáng mùng 2 Tết, đội hình gồm ba chiếc xe tải nhỏ và một xe máy xuất phát, lao vút trong màn đêm Sài Gòn hướng thẳng về cổng sau Dinh Độc Lập.
3. Khúc tráng ca đẫm máu trên đường Nguyễn Du
Khi đoàn xe của Đội 5 cách cổng Dinh Độc Lập trên đường Nguyễn Du chỉ chừng vài chục mét, lực lượng lính gác của địch phát hiện có biến và nổ súng cảnh cáo. Ngay lập tức, chỉ huy Ba Thanh ra lệnh tấn công. Hai chiến sĩ bộc phá lao lên phía trước định đặt khối thuốc nổ TNT đánh sập cổng sắt. Tuy nhiên, hỏa lực của địch từ trong các lô cốt bắn ra như mưa. Một số chiến sĩ của ta trúng đạn ngã xuống ngay từ những phút đầu tiên. Khối bộc phá không thể kích nổ.
Mất yếu tố bất ngờ ban đầu, 15 chiến sĩ Biệt động rơi vào thế vô cùng bất lợi. Họ phải tản ra, lợi dụng địa hình địa vật của một tòa nhà đang xây dang dở bên kia đường Nguyễn Du để lập phòng tuyến đánh trả. Cuộc chiến không cân sức diễn ra vô cùng khốc liệt. Tiếng súng AK-47, tiếng nổ của lựu đạn đan xen với tiếng đại liên M60 và súng chống tăng của địch làm rung chuyển cả một góc Sài Gòn.
Chín Nghĩa vừa cầm súng bắn yểm trợ cho đồng đội, vừa làm nhiệm vụ cứu thương. Cô gái tuổi 20 lặn lộn trong khói mù mịt, xé vạt áo băng bó vết thương cho các anh. Nhưng hỏa lực của địch quá mạnh. Địch điều động thêm xe tăng, xe bọc thép và cả trực thăng vũ trang quần thảo trên đầu, dội đạn rát mặt xuống vị trí của Đội 5.
"Nhìn đồng đội lần lượt ngã xuống ngay trước mắt mình mà tim tôi đau như cắt. Anh Ba Thanh bị thương nặng ở bụng, ruột trào ra ngoài, nhưng anh lấy tay ấn vào, nghiến răng tiếp tục chỉ huy anh em chiến đấu. Anh hô to: 'Còn một người cũng phải chiến đấu đến cùng, không được để địch bắt sống!'. Lời dặn ấy khắc sâu vào tâm khảm tôi cho đến tận bây giờ," bà Chín Nghĩa nghẹn ngào lau nước mắt.
Sáng hôm sau, quân địch tăng cường viện binh, phong tỏa nhiều lớp xung quanh khu vực Dinh Độc Lập. Đội 5 Biệt động vẫn kiên cường bám trụ, đánh bật nhiều đợt xung phong của quân cảnh và lính thủy đánh bộ Sài Gòn. Tuy nhiên, do quân chủ lực không thể tiến vào tiếp ứng kịp thời, đạn dược của Đội 5 dần cạn kiệt. Đến trưa mùng 2 Tết, lực lượng của đội tổn thất nặng nề. 8 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, nhiều người bị thương nặng. Chỉ còn lại vài người, trong đó có Chín Nghĩa, tiếp tục dùng những viên đạn cuối cùng để cầm cự.
Cuối cùng, khi không còn một viên đạn, lựu đạn đã ném hết, quân địch ập vào bắt sống những người còn lại. Trận đánh kết thúc trong bi tráng, nhưng đã để lại một tiếng vang chấn động toàn cầu. Việc một nhóm nhỏ Biệt động quân đánh thẳng vào Dinh Tổng thống giữa thủ đô Sài Gòn đã đập tan những lời tuyên truyền của Mỹ - ngụy về một miền Nam "an toàn", đánh đòn tâm lý nặng nề vào ý chí xâm lược của Lầu Năm Góc.
4. Địa ngục trần gian và bản lĩnh của người con gái đất thép
Bị bắt sống, bà Chín Nghĩa cùng các đồng đội sống sót bước vào một cuộc chiến tranh mới: Cuộc chiến trong chốn lao tù. Biết bà là nữ biệt động trực tiếp tham gia trận đánh Dinh Độc Lập, kẻ địch đã dùng đủ mọi cực hình tàn khốc nhất để khai thác thông tin về các cơ sở ngầm của ta trong thành phố.
Bà bị giam tại các nhà tù khét tiếng từ Tổng nha Cảnh sát, Khám lớn Chí Hòa đến Trung tâm thẩm vấn. Chúng tra tấn bà bằng đòn roi, chích điện, đổ nước xà phòng, nước vôi vào miệng, mũi. Có những lần bị đánh đến chết đi sống lại, toàn thân rớm máu, không còn một chỗ lành lặn. Nhưng những đòn thù tàn bạo đó không thể khuất phục được ý chí của người nữ chiến sĩ.
"Chúng hỏi tổ chức ở đâu, ai chỉ huy, vũ khí giấu chỗ nào. Tôi cắn nát cả môi để không bật ra tiếng rên la, chỉ lặp lại một câu: 'Tôi không biết. Tôi chỉ là người đi theo các anh thôi'. Tôi biết nếu mình khai ra một lời, hàng trăm cơ sở bí mật của ta sẽ bị phá vỡ, máu của đồng chí mình sẽ đổ xuống. Lòng căm thù giặc đã biến tôi thành một khối thép, đánh đập cỡ nào cũng không biết đau nữa," bà kể với đôi mắt sáng ngời kiên định.
Năm 1969, không khuất phục được bà, kẻ địch đưa Vũ Minh Nghĩa ra tòa án binh và kết án tử hình. Tuy nhiên, phong trào đấu tranh chính trị đòi trả tự do cho tù binh chính trị trong và ngoài nước dâng cao, địch buộc phải giảm án xuống tù chung thân và đày bà ra "địa ngục trần gian" Côn Đảo.
Tại Côn Đảo, bà bị nhốt trong những Chuồng Cọp khét tiếng. Sống trong không gian chật hẹp, bẩn thỉu, ăn cơm hẩm lẫn cát sạn, bị cai ngục hành hạ mỗi ngày, nhưng bà và các nữ tù chính trị vẫn giữ vững khí tiết. Họ bí mật tổ chức học tập văn hóa, học hát các bài ca cách mạng, tìm mọi cách truyền tin và động viên nhau giữ trọn niềm tin vào ngày chiến thắng. Sự đùm bọc, yêu thương của những người chị em chốn lao tù đã trở thành động lực to lớn giúp bà vượt qua những năm tháng đen tối nhất của cuộc đời.
Năm 1974, sau Hiệp định Paris, bà Vũ Minh Nghĩa cùng hàng ngàn tù binh chính trị khác được trao trả tự do tại Lộc Ninh. Ngày trở về vùng giải phóng, nhìn thấy cờ Mặt trận tung bay, bà đã ôm lấy đồng đội khóc nức nở. Bà lập tức xin được tiếp tục cầm súng, quay lại công tác tại đơn vị cũ cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
5. Nụ cười ngày chiến thắng và khoảng lặng giữa thời bình
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn được giải phóng. Biệt động Sài Gòn hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Đứng giữa thành phố cờ hoa rợp trời, bà Chín Nghĩa lại không kìm được nước mắt. Đó là những giọt nước mắt hạnh phúc của ngày hòa bình, nhưng cũng là những giọt nước mắt đau xót tột cùng khi nhớ về 8 người đồng đội Đội 5 đã vĩnh viễn nằm lại trước cổng Dinh Độc Lập năm xưa, không kịp nhìn thấy ngày đất nước trọn niềm vui.
Trở về cuộc sống đời thường, bà Vũ Minh Nghĩa chọn một lối sống vô cùng giản dị. Bà lập gia đình, tần tảo làm ăn, nuôi dạy các con khôn lớn. Mang trên mình vô số vết thương và di chứng từ những đòn tra tấn dã man trong tù, sức khỏe của bà bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhưng cũng giống như biết bao người phụ nữ Việt Nam anh hùng khác, bà chưa bao giờ đòi hỏi công danh hay sự đền đáp từ Nhà nước.
Hiện nay, ở tuổi ngoài 70, bà Chín Nghĩa vẫn tích cực tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, đi tìm lại hài cốt của đồng đội cũ. Bà là khách mời thường xuyên của các chương trình giao lưu truyền thống, các buổi học ngoại khóa của thanh niên, sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh. Nụ cười hiền hậu, giọng nói nhỏ nhẹ mang rặt âm sắc Nam Bộ của bà luôn gây ấn tượng mạnh với người nghe. Không ai nghĩ rằng người bà phúc hậu ấy từng là một nữ biệt động tay ôm súng AK xông pha vào chốn tử địa.
Bà thường rưng rưng dặn dò thế hệ trẻ: "Các cháu sinh ra trong hòa bình là một sự may mắn vô cùng to lớn. Bầu trời trong xanh này, đường phố nhộn nhịp này được xây lên bằng xương máu của không biết bao nhiêu người ngã xuống. Thế hệ cô đã làm xong nhiệm vụ của mình. Giờ đây, các cháu phải dùng tri thức, dùng trái tim yêu nước để bảo vệ và xây dựng đất nước này. Đừng bao giờ quên lịch sử, đừng bao giờ quên cái giá của hòa bình."
Câu chuyện về nữ biệt động Vũ Minh Nghĩa không chỉ là một mảnh ghép chói lọi trong bức tranh toàn cảnh về cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968, mà còn là bản hùng ca bất diệt về người phụ nữ Việt Nam: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Ký ức của bà sẽ mãi là một ngọn lửa ấm áp nhưng vô cùng mãnh liệt, thắp sáng truyền thống yêu nước cho muôn vạn thế hệ mai sau.


