Khác

Bóng người nơi cổng trời Cha Lo – Hành trình thầm lặng của Anh hùng Hồ Phòm

Bài viết tái hiện cuộc đời chiến đấu đầy hiểm nguy nhưng thầm lặng của Anh hùng Hồ Phòm – người con dân tộc Khùa, chiến sĩ quân báo biên phòng đã góp phần bảo vệ tuyến đường Hồ Chí Minh và vun đắp tình đoàn kết Việt – Lào trong kháng chiến chống Mỹ.

Quảng Trị24/04/2026Hồ Khánh Linh (Phường Đồng Hới)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Hồ Chí Minh không chỉ là tuyến vận tải chiến lược mà còn trở thành biểu tượng của ý chí đoàn kết và sức mạnh toàn dân tộc. Trên dọc tuyến đường huyền thoại ấy, mỗi đồn biên phòng là một pháo đài, mỗi chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang, mỗi người dân các dân tộc Mày, Sách, Khùa đều là những chiến binh kiên cường, sẵn sàng đối đầu với kẻ thù. Biết bao máu xương đã đổ xuống để giữ vững mạch sống của con đường, để mỗi tấc đất nơi đây thấm đẫm tinh thần bất khuất của dân tộc.

Từ chính vùng đất biên cương khắc nghiệt ấy, một người con ưu tú của đồng bào Khùa đã trưởng thành và trở thành biểu tượng tự hào – Đại úy Hồ Phòm, người được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1970. Theo lời kể của già làng Cao Quý Nhè, Hồ Phòm từ nhỏ đã mồ côi cha, phải sống nương tựa nơi gia đình nuôi. Năm 1954, ông tham gia lực lượng du kích, giữ cương vị Phó Chủ tịch Mặt trận xã. Một năm sau, ông nhập ngũ, công tác trong lực lượng Công an tỉnh Quảng Bình, đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ an ninh tuyến biên giới Việt – Lào. Đến năm 1959, ông chuyển sang lực lượng Công an nhân dân vũ trang, công tác tại Đồn Biên phòng Cha Lo, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trinh sát, đột nhập vào các cứ điểm của địch.

Đó là giai đoạn mà không chỉ bản thân Hồ Phòm mà cả gia đình ông phải tuân thủ nguyên tắc “ba không”: không tiết lộ, không trả lời, không để lộ bất cứ thông tin nào. Trong vai một người dân thường, ông mặc thường phục, sử dụng thành thạo tiếng Lào để bí mật xâm nhập các đồn địch như Lằng Khằng, La Te, thu thập tin tức về lực lượng và bố trí quân sự. Mỗi chuyến đi là một lần đối mặt với cái chết, bởi nếu bị phát hiện, ông sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bí mật quốc gia. Chính từ những thông tin quý giá đó, lực lượng ta đã đánh thắng các cứ điểm quan trọng năm 1961, mở thông tuyến đường chiến lược sang nước bạn Lào.

Năm 1962, Hồ Phòm được cử đi học tại Trường Quân báo, sau đó tiếp tục sang Lào làm nhiệm vụ cố vấn quân sự. Ông phụ trách hai bản Pha Xoóng và Cả Toóc – nơi người dân sống trong rừng sâu, thiếu thốn đủ bề. Lợi dụng hoàn cảnh đó, các thế lực phản động tìm cách kiểm soát và bóc lột nhân dân. Trong vai trò của mình, Hồ Phòm vừa làm công tác nghiệp vụ, vừa xây dựng cơ sở cách mạng, vận động đồng bào không theo giặc, ủng hộ cách mạng hai nước. Có lần, khi phát hiện phản động cài cắm vào chính quyền địa phương, ông đã kịp thời báo cáo và tổ chức truy bắt thành công sáu tên, giữ vững ổn định địa bàn.

Những năm tháng hoạt động nơi đất bạn là chuỗi ngày gian nan khó có thể kể hết. Người chiến sĩ quân báo ấy phải đối mặt với bệnh sốt rét rừng, khí độc, hiểm nguy rình rập và hai lần cận kề cái chết. Bọn phỉ treo thưởng lớn cho ai giết được ông, liên tục tổ chức truy lùng và phá hoại các bản làng. Nhưng mỗi lần như vậy, Hồ Phòm cùng đồng đội vẫn kiên cường sát cánh với nhân dân, bảo vệ bản làng, đẩy lùi các cuộc tấn công.

Hai lần thoát chết của ông trở thành những câu chuyện được nhắc lại nhiều lần. Lần thứ nhất, khi đang đi công tác, ông và một đồng chí người Lào bị phục kích. Sau khi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hai người quyết định giả chết để đánh lừa kẻ địch và thoát thân. Lần khác, khi bị bao vây trong một bản làng, ông nhanh trí giả làm con rể của một gia đình địa phương, dùng chính khả năng nói tiếng Lào lưu loát để qua mặt quân địch, thoát khỏi vòng vây trong gang tấc.

Năm 1966, khi máy bay Mỹ tăng cường đánh phá khu vực biên giới Cha Lo, người dân hoảng loạn bỏ bản vào rừng sâu lánh nạn. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Hồ Phòm đã kiên trì vào tận các hang đá, vận động, giải thích để bà con quay trở lại bản làng, ổn định cuộc sống. Nhờ sự tận tâm của ông, nhiều bản làng như Cà Ai (xã Dân Hóa) đã trở thành điểm sáng về an ninh và sản xuất. Đồng thời, ông cũng góp phần xóa bỏ những mâu thuẫn kéo dài giữa các dân tộc, xây dựng khối đoàn kết bền chặt nơi vùng biên.

Với những đóng góp to lớn nhưng thầm lặng, Hồ Phòm không chỉ bảo vệ vững chắc tuyến biên giới mà còn góp phần củng cố tình hữu nghị Việt – Lào, bảo vệ các tuyến giao liên chiến lược. Năm 1969, ông được vinh dự đại diện cho lực lượng quân báo hoạt động tại Lào ra Hà Nội dự hội nghị quan trọng. Đến ngày 25/8/1970, ông chính thức được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, và có dịp gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người đã nhấn mạnh vai trò thầm lặng nhưng đặc biệt quan trọng của lực lượng quân báo.

Sau ngày đất nước thống nhất, Hồ Phòm xin phục viên, trở về với cuộc sống đời thường. Ông chia sẻ mong muốn giản dị: dành thời gian chăm lo gia đình sau những năm dài cống hiến. Năm 2000, ông qua đời, để lại lời dặn sâu sắc cho con cháu về lòng biết ơn với Đảng, với cách mạng và trách nhiệm giữ gìn chủ quyền biên giới trong thời bình.

Ngày nay, những bản làng vùng biên từng in dấu chân ông đã đổi thay mạnh mẽ, trở thành những điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới. Nhưng câu chuyện về người anh hùng nơi cổng trời Cha Lo vẫn được kể lại, như một ngọn lửa âm ỉ nuôi dưỡng lòng tự hào và ý thức trách nhiệm cho thế hệ trẻ nơi biên cương Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn