BÓNG NGUYỆT MÀI GƯƠM: KHÚC TRÁNG CA CỦA LÒNG TRUNG TRINH
Tác giả: Nguyễn Thị Minh

Trong những trang sử bi hùng của vương triều Hậu Trần, có một danh tướng mà cuộc đời đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất, dẫu thất bại vẫn rạng ngời trung nghĩa: Đồng bình chương sự Đặng Dung. Sinh năm 1373 tại vùng đất Hà Tĩnh ngày nay, ông là con trai cả của Quốc công Đặng Tất – người anh hùng từng giữ vững binh quyền đất Hóa Châu. Lớn lên giữa thời thế loạn lạc khi giặc Minh xâm lược và đô hộ nước ta, Đặng Dung đã sớm mang trong mình dòng máu trung liệt của gia đình.
Mùa xuân năm Kỷ Sửu (1409), một biến cố thảm khốc ập xuống gia đình ông. Vua Giản Định Đế do đa nghi, nghe lời gièm pha của kẻ tiểu nhân đã tàn nhẫn ra lệnh giết hại Đặng Tất ngay trên bến Hoàng Giang. Nhận tin cha bị giết oan, Đặng Dung lòng đau như cắt, giận dữ khôn nguôi. Tuy nhiên, đặt nợ nước lên trên thù nhà, ông quyết định gác thù riêng, cùng Nguyễn Cảnh Dị (con trai của tướng Nguyễn Cảnh Chân cũng bị giết oan) rút quân về Thanh Hóa rồi rước Hoàng tôn Trần Quý Khoáng lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Trùng Quang để tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Minh cứu nước. Cảm kích trước tấm lòng đại nghĩa ấy, vua Trùng Quang đã phong Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, giao phó trọng trách phò vua cứu nước.
Suốt từ năm 1409 đến năm 1413, Đặng Dung cùng các tướng lĩnh Hậu Trần đã kiên trì nếm mật nằm gai, lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu dũng cảm trong hàng trăm trận chiến lớn nhỏ. Một trong những chiến tích lẫy lừng và tiếc nuối nhất của ông chính là trận Sái Già (sông Thái Gia) vào tháng 9 năm 1413. Đêm ấy, giữa bóng tối mịt mùng, Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, bất ngờ đánh úp vào doanh trại của tướng giặc Trương Phụ. Với dũng khí phi thường, ông cầm gươm nhảy thẳng lên thuyền của Trương Phụ nhằm bắt sống tổng binh nhà Minh. Nhưng oái oăm thay, trời quá tối đen khiến ông không nhận mặt được tên ác tướng. Trương Phụ thừa cơ hội hỗn loạn đã nhanh chân nhảy xuống thuyền nhỏ trốn thoát. Do quân ta ít, lại không được Nguyễn Súy kịp thời hợp lực tiếp ứng, Trương Phụ quay lại phản công dữ dội khiến Đặng Dung đành phải ngậm ngùi lui quân.
Dù trận chiến Sái Già bại vong, tinh thần chủ động tiến công và mưu lược của Đặng Dung vẫn được sử thần Ngô Sĩ Liên ca ngợi hết lời, coi ông là một bậc tài tướng xuất chúng dẫu thất bại vẫn vinh quang. Sau thất bại cay đắng ấy, quân Hậu Trần rơi vào thế yếu, phải rút vào ẩn náu trong chốn rừng sâu núi thẳm. Đến khoảng cuối năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt giữ khi đang tìm đường lánh sang Xiêm La để mưu tính đại kế lâu dài.
Tháng 4 năm 1414, trên đường bị quân Minh áp giải về Yên Kinh, vua Trùng Quang đã nhảy xuống nước tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết. Chứng kiến cảnh nước mất chúa băng, Đặng Dung không ngần ngại lập tức nhảy xuống nước tự sát theo vua. Sự hy sinh oanh liệt của ông là lời khẳng định đanh thép cho khí tiết trung trinh, không chịu cúi đầu làm nô lệ cho ngoại bang.
Trước khi hy sinh, Đặng Dung đã kịp lưu lại cho hậu thế bài thơ "Cảm hoài" (hay "Thuật hoài") – thi phẩm duy nhất của ông nhưng đã trở thành một kiệt tác bất hủ trong lịch sử văn học Việt Nam. Bài thơ khắc họa sâu sắc nỗi lòng u uất của một tráng sĩ tóc đã bạc màu mà nợ nước vẫn chưa tròn, chỉ biết mài gươm dưới bóng trăng tà:
"Việc đời bối rối tuổi già vay Trời đất vô cùng một cuộc say Bần tiện gặp thời lên cũng dễ Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay Vai khiêng trái đất mong phò chúa Giáp gột sông trời khó vạch mây Thù trả chưa xong đầu đã bạc Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày."
Hình ảnh Đặng Dung mài gươm dưới bóng nguyệt đã tạc vào lịch sử một tượng đài bi tráng về lòng yêu nước. Để tri ân tấm lòng "Tiết liệt cương trung", vua Lê Lợi sau khi chiến thắng quân Minh đã sắc phong ông là "Cao Sơn Hầu". Đền thờ Đặng Dung tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay vẫn khói hương nghi ngút, là nơi ngàn năm ngân vang bài thơ "Cảm hoài" và khí phách của một đấng anh hùng lỡ bước nhưng linh hồn mãi trường tồn cùng sông núi.



