Cựu chiến binh

BÔNG SÚNG TRẮNG DƯỚI AO LÀNG

Lào Cai22/05/2026sưu tầm (Tuổi trẻ xã Bảo Thắng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi là Mai Văn Tư, sinh năm 1951, quê ở Đồng Tháp. Quê tôi có nhiều ao, nhiều kênh rạch, mùa nước nổi bông súng trắng nở đầy mặt nước. Hồi nhỏ, tôi thường cùng chị gái chèo xuồng hái bông súng về nấu canh chua. Màu trắng của bông súng trong ký ức tôi rất hiền, rất trong. Nhưng những năm chiến tranh, chính những ao làng, kênh rạch ấy cũng trở thành nơi che giấu, nuôi dưỡng và bảo vệ cách mạng.

Tôi tham gia du kích xã khi vừa mười bảy tuổi. Người tôi gầy, bơi giỏi, thuộc từng con rạch nhỏ nên thường được giao nhiệm vụ dẫn đường, đặt chông, chuyển tin hoặc đưa cán bộ qua vùng địch kiểm soát. Má tôi ban đầu không muốn cho đi. Má bảo nhà chỉ còn mình tôi là con trai. Nhưng rồi má tự tay may cho tôi một cái túi vải nhỏ để đựng thư, dặn: “Đi thì đi cho đáng mặt con của xứ này.”

Trong đội du kích có chị Lê Thị Bảy, sinh năm 1948, lớn hơn tôi ba tuổi. Chị gan dạ, bắn súng giỏi, lại rất thương anh em. Mỗi khi chúng tôi đói, chị thường lội xuống ao hái bông súng, bẻ thêm mấy trái ớt, nấu nồi canh chua loãng mà ai ăn cũng thấy ngon. Chị hay nói: “Chừng nào bông súng còn nở, mình còn bám đất này.”

Một đêm, chúng tôi nhận nhiệm vụ đưa một cán bộ huyện vượt qua cánh đồng ngập nước để về căn cứ. Địch vừa lập thêm đồn, tuần tra dày hơn. Muốn đi an toàn phải men theo ao làng, lẩn trong đám bông súng và lục bình. Tôi đi trước dò đường, chị Bảy đi sau bảo vệ.

Trời đêm yên tĩnh đến đáng sợ. Nước ngập ngang ngực, lạnh buốt. Chúng tôi phải ngâm mình dưới ao, chỉ nhô đầu lên khi cần thở. Trên bờ, ánh đèn pin của địch quét qua quét lại. Có lúc chúng đi sát mép ao, nói cười rất lớn. Tôi nằm im giữa đám bông súng, tim đập thình thịch. Một bông súng trắng trôi ngay trước mặt tôi, cánh hoa run nhẹ theo làn nước.

Khi chúng tôi gần qua khỏi khu vực nguy hiểm, một tiếng súng bất ngờ vang lên. Có lẽ địch phát hiện dấu nước động. Đạn bắn xuống ao, nước bắn tung tóe. Chị Bảy lập tức đẩy người cán bộ về phía tôi, nói nhỏ: “Tư, đưa chú đi tiếp. Chị chặn lại.”

Tôi không chịu. Nhưng chị nhìn tôi rất nghiêm: “Lệnh đó!”

Tôi dìu người cán bộ men theo rạch nhỏ, phía sau tiếng súng của chị Bảy nổ từng phát chắc gọn. Chúng tôi bò qua bùn, qua rễ cây, qua những bụi lục bình dày đặc. Khi đưa được cán bộ tới điểm hẹn an toàn, tôi quay lại tìm chị. Nhưng cả đêm ấy, chị không về.

Sáng hôm sau, bà con phát hiện chị bên mé ao làng. Chị đã hy sinh, khẩu súng vẫn nằm cạnh tay. Xung quanh chị, bông súng trắng nở đầy. Có mấy cánh hoa dính bùn và máu. Tôi đứng lặng rất lâu, rồi lội xuống hái một bông súng đặt lên ngực chị. Tôi không khóc thành tiếng, nhưng trong lòng như có một dòng nước lũ cuốn qua.

Sau ngày ấy, mỗi khi làm nhiệm vụ qua ao làng, tôi lại nhớ câu nói của chị: “Chừng nào bông súng còn nở, mình còn bám đất này.” Câu nói ấy trở thành lời thề của chúng tôi. Dù bị càn quét, dù nhà cháy, dù đồng ruộng hoang tàn, chúng tôi vẫn bám làng, bám nước, bám từng bụi lục bình, từng bờ ao.

Đất nước thống nhất, tôi trở về làm nông dân. Ao làng năm xưa vẫn còn, dù bờ đã được đắp lại, nước trong hơn. Mỗi mùa bông súng nở, tôi lại chèo xuồng ra giữa ao. Tôi nhìn màu trắng ấy mà nhớ chị Bảy, nhớ những người du kích áo bà ba đã đi qua chiến tranh bằng đôi chân lấm bùn và trái tim rực lửa.

Có người nói hoa lửa phải là màu đỏ. Nhưng với tôi, hoa lửa còn có màu trắng của bông súng dưới ao làng. Màu trắng ấy không yếu mềm. Nó mọc lên từ bùn, vươn lên khỏi mặt nước, lặng lẽ mà bền bỉ. Cũng như chị Bảy và bao con người quê tôi, bình dị, âm thầm, nhưng khi Tổ quốc cần thì sẵn sàng cháy sáng đến tận cùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn