Bài viết

Bữa cơm cuối trước ngày nhập ngũ

Hà Nội06/08/2026Xã Thái Bình (Đoàn xã Thái Bình)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những ngày cuối năm 1968, khi những cơn gió mùa đông bắc tràn về làm mặt sông quê lạnh buốt và những ruộng lúa vừa gặt chỉ còn trơ gốc rạ vàng úa, ngôi làng nhỏ nằm nép mình dưới chân dãy núi vẫn âm thầm sống trong nhịp điệu quen thuộc của một vùng quê thời chiến. Ban ngày, người dân ra đồng cày cấy, đắp bờ, tranh thủ từng giờ yên tiếng bom để gieo trồng. Đêm xuống, ánh đèn dầu trong mỗi ngôi nhà đều được che kín bằng những tấm vải đen để tránh máy bay địch phát hiện. Cuộc sống nghèo khó nhưng nghĩa tình, và giữa những tháng năm gian khổ ấy, điều khiến mọi người lo lắng nhất không phải là thiếu ăn hay thiếu mặc mà là những cuộc chia tay diễn ra ngày một nhiều khi lớp thanh niên trong làng lần lượt khoác ba lô lên đường bảo vệ Tổ quốc.

Gia đình ông Tư ở cuối xóm cũng chuẩn bị cho một cuộc chia ly như thế. Người con trai cả của ông bà là Thành vừa tròn hai mươi tuổi đã nhận được giấy gọi nhập ngũ. Thành là niềm tự hào của cả gia đình. Từ nhỏ anh đã chăm chỉ, hiền lành và luôn biết nhường nhịn các em. Cha mẹ quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để nuôi bốn anh em khôn lớn. Thành học hết phổ thông rồi ở nhà phụ giúp gia đình vì biết hoàn cảnh còn nhiều khó khăn. Anh vẫn thường nói rằng sau này nếu quê hương hòa bình, anh sẽ học nghề cơ khí để mở một xưởng sửa máy nông nghiệp, giúp bà con trong vùng đỡ vất vả. Thế nhưng khi Tổ quốc cần, anh gác lại tất cả những dự định còn dang dở để tình nguyện lên đường.

Tin Thành nhập ngũ lan khắp xóm. Hàng xóm ai đi ngang cũng ghé vào động viên. Có người mang sang chục trứng gà, người mang ít gạo nếp, người đem mớ rau xanh vừa hái ngoài vườn. Trong thời buổi thiếu thốn, những món quà ấy không lớn nhưng chứa đựng biết bao tình cảm. Bà Tư nhìn những thứ bà con mang đến mà mắt đỏ hoe. Bà biết mọi người không chỉ giúp gia đình có thêm một bữa cơm tiễn con trai, mà còn gửi gắm vào đó niềm tin rằng những người thanh niên của làng rồi sẽ có ngày chiến thắng trở về.

Sáng hôm trước ngày Thành lên đường, bà Tư dậy từ lúc trời còn chưa sáng. Bà nhóm bếp, vo nắm gạo nếp ngon nhất vẫn cất dành từ vụ mùa trước, làm một nồi xôi đỗ xanh thơm phức. Ông Tư mang con gà trống duy nhất trong chuồng ra làm thịt. Đó là con gà ông nuôi hơn một năm, dự định để bán lấy tiền mua phân bón cho vụ sau, nhưng rồi ông chỉ cười hiền bảo rằng tiền có thể kiếm lại được, còn bữa cơm cuối cùng của con trước ngày nhập ngũ thì cả đời chỉ có một lần. Hai cô em gái của Thành chạy khắp vườn hái rau, rửa từng bó hành, nhặt từng cọng ngò để mẹ nấu nồi canh. Cậu em út thì hí hửng lau sạch bộ bát đĩa sứ chỉ được mang ra trong những dịp đặc biệt.

Đến trưa, căn nhà nhỏ thơm ngào ngạt mùi cơm mới. Trên chiếc mâm gỗ cũ đã mòn theo năm tháng là những món ăn giản dị nhưng quý giá biết bao trong những năm tháng chiến tranh: đĩa thịt gà luộc vàng óng, bát canh cải nấu gừng, đĩa cá kho, bát cà muối, nồi cơm trắng và đĩa xôi nếp còn nghi ngút khói. Cả gia đình ngồi quây quần bên nhau. Không ai vội cầm đũa. Mọi người như muốn kéo dài thêm vài phút quý giá trước khi cuộc chia ly bắt đầu.

Ông Tư là người lên tiếng trước. Ông nâng chén trà thay cho chén rượu bởi trong nhà chẳng còn rượu để uống. Giọng ông trầm nhưng dứt khoát khi dặn con trai rằng ra chiến trường phải biết yêu thương đồng đội, phải giữ gìn sức khỏe và dù trong hoàn cảnh nào cũng không được quên mình là người con của quê hương. Ông nói rằng người lính có thể chịu đói, chịu rét nhưng không được đánh mất lòng nhân hậu và danh dự. Thành lặng lẽ gật đầu, cố nuốt nghẹn để không bật khóc trước mặt cha.

Bà Tư gắp miếng thịt gà ngon nhất bỏ vào bát con trai rồi bảo ăn nhiều một chút vì từ mai sẽ không còn được ăn cơm mẹ nấu nữa. Thành nhìn đôi bàn tay gầy guộc, đầy những vết nứt nẻ của mẹ mà lòng quặn thắt. Anh nhớ những buổi mẹ đội mưa gặt lúa, những đêm thức trắng vá áo cho các con và cả những lần nhịn ăn để dành phần cơm ít ỏi cho cả nhà. Anh chỉ biết nắm lấy bàn tay mẹ rồi khẽ nói rằng mẹ hãy giữ gìn sức khỏe, chờ con trở về. Bà Tư mỉm cười, nhưng nước mắt đã lăn dài trên gò má nhăn nheo.

Hai cô em gái ngồi bên cạnh không giấu nổi xúc động. Người chị lấy trong túi áo ra một chiếc khăn len còn chưa đan xong, nói rằng sẽ cố hoàn thành trước khi có người từ quê lên đơn vị thăm để gửi cho anh. Cô em út thì lặng lẽ nhét vào ba lô anh một túi lạc rang, bảo rằng đó là phần em để dành nhiều tháng. Thành xoa đầu em, cười hiền như mọi khi, nhưng trong lòng anh hiểu rằng có thể rất lâu nữa mới được nhìn thấy những gương mặt thân thương ấy.

Bữa cơm kéo dài hơn thường lệ. Mọi người kể cho nhau nghe những câu chuyện cũ, nhắc lại những kỷ niệm thời Thành còn nhỏ, từ lần đầu theo cha ra đồng đến những buổi bắt cá ngoài sông cùng lũ bạn trong xóm. Tiếng cười vẫn vang lên, nhưng phía sau mỗi nụ cười là một nỗi buồn khó gọi thành tên. Không ai muốn nhắc đến chiến tranh hay những mất mát bởi tất cả đều mong người sắp lên đường sẽ mang theo trong tim hình ảnh đẹp nhất của gia đình.

Sáng hôm sau, cả làng tập trung tại sân đình để tiễn những thanh niên nhập ngũ. Lá cờ đỏ tung bay trong gió lạnh. Tiếng trống vang lên dồn dập. Thành khoác chiếc ba lô đơn sơ, quay lại nhìn căn nhà nhỏ lần cuối. Mẹ đứng bên cổng, tay vẫn cầm chiếc khăn nâu lau nước mắt. Cha cố giữ vẻ bình tĩnh, nhưng đôi mắt đỏ hoe đã nói lên tất cả. Thành cúi xuống lạy cha mẹ rồi bước đi. Anh không dám ngoái đầu nhiều lần vì sợ mình sẽ không đủ can đảm để tiếp tục.

Những năm sau đó, Thành cùng đơn vị chiến đấu trên nhiều mặt trận ác liệt. Mỗi khi nhớ nhà, anh lại nhớ đến bữa cơm cuối cùng hôm trước ngày nhập ngũ. Trong ký ức của anh luôn hiện lên mùi cơm mới, vị ngọt của miếng thịt gà mẹ gắp, tiếng cha dặn dò, tiếng em gái cười và ánh mắt chan chứa yêu thương của cả gia đình. Chính những ký ức bình dị ấy đã trở thành sức mạnh giúp anh vượt qua những đêm hành quân giữa rừng sâu, những trận bom dữ dội và những ngày đói rét nơi chiến trường.

May mắn đã mỉm cười với Thành. Sau ngày đất nước thống nhất, anh trở về quê hương với một vết sẹo dài trên vai và mái tóc điểm vài sợi bạc dù tuổi còn rất trẻ. Căn nhà cũ vẫn còn đó, chỉ có cha mẹ đã già đi nhiều. Ngày cả gia đình lại ngồi quây quần bên mâm cơm, bà Tư vẫn nấu những món ăn của bữa cơm năm nào. Bà gắp miếng thịt gà vào bát con trai rồi mỉm cười nói rằng lần này hãy ăn thật nhiều vì sẽ không còn phải chia tay nữa. Thành lặng lẽ nhìn từng khuôn mặt thân yêu, nghe tiếng cười của các em, hít thật sâu mùi khói bếp quen thuộc và chợt nhận ra rằng hạnh phúc đôi khi chỉ giản dị là được ngồi bên mâm cơm gia đình trong một đất nước đã hoàn toàn yên tiếng súng. Chính những bữa cơm bình thường ấy là điều mà biết bao người lính đã đánh đổi bằng cả tuổi thanh xuân để gìn giữ cho các thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn