Bài viết

Bức Thư Của Người Chiến Sĩ Sông Hậu

Hưng Yên12/12/2025Nguyễn Thị Ngoan (Trường TH và THCS Tây Đô)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bức Thư Của Người Chiến Sĩ Sông Hậu

Mặt trời miền Tây đổ những vệt nắng cuối cùng lên con kênh chằng chịt, dát vàng những vạt dừa nước lúp xúp. Mùi bùn non, mùi cỏ dại và mùi thuốc súng thoang thoảng quyện vào nhau, tạo nên thứ hương vị đặc trưng của vùng đất Sông Hậu năm 1971.

Chiến sĩ Nguyễn Văn Trọng, biệt danh Ba Trọng, ngồi tựa lưng vào giao thông hào, tay mân mê khẩu súng trường SKS đã mòn vẹt. Anh không nhìn khẩu súng, mà nhìn xa xăm vào khoảng không hun hút phía trước, nơi ánh trăng non đang cố gắng luồn qua vòm lá rậm. Đã mấy đêm rồi Trọng không ngủ được. Không phải vì tiếng pháo kích vọng lại từ chi khu địch, cũng không phải vì sốt rét rừng tái phát, mà vì một nỗi niềm riêng tư đang cồn cào nơi lồng ngực. Đêm nay, anh quyết định phải viết.

Ba Trọng rút từ ba lô một tập giấy pơ-luya màu vàng nhạt, nhàu nát vì hơi ẩm và những lần băng rừng lội suối. Anh đặt tập giấy lên cái hộp tiếp đạn rỗng làm bàn, nắn nót viết lên dòng chữ đầu tiên dưới ánh đèn pin được che chắn kỹ lưỡng.

“Mười Tám Thơ, Vĩnh Hưng, Long An. Thư gửi vợ hiền – Năm. Đêm 28 tháng Chạp năm Tân Hợi (1971).”

Anh dừng lại, mỉm cười một mình. Cô Năm, tên thật là Nguyễn Thị Năm, người vợ tào khang của anh, luôn trách anh khô khan, chỉ biết nói chuyện cách mạng. Nhưng trong chiến khu này, chỉ riêng cái tên “Năm” thôi đã là suối nguồn mát lành, là hơi ấm của mái tranh vách lá, là hình ảnh của hai đứa con nhỏ đang lớn dần ở quê nhà.

Trọng nhớ lại ngày anh rời nhà. Đó là một buổi sáng cuối năm 1968, khi Mậu Thân vừa đi qua. Anh đã hứa với Năm: “Anh đi để mang lại cái Tết không còn tiếng súng cho các con mình, Năm à.” Anh đã gia nhập Tiểu đoàn 303 thuộc Quân khu 9, chiến đấu trên nhiều chiến trường ác liệt từ Cà Mau, U Minh Thượng đến Rạch Giá, Long Mỹ. Ba năm ròng, anh chỉ về thăm nhà được hai lần, mỗi lần chỉ chớp nhoáng như cơn gió ngang qua.

Anh bắt đầu viết, câu chữ lúc đầu còn gượng gạo, rồi trôi chảy dần, như dòng phù sa của Sông Tiền, Sông Hậu:

“Năm thương nhớ, Anh viết thư này là lúc đất trời sắp sửa giao hòa. Chỉ còn hai hôm nữa thôi là Tết. Ở đây, tụi anh vẫn đánh nhau, vẫn bám trận địa. Đêm qua vừa đánh bật một trận càn lớn của sư đoàn 21 ngụy. Pháo rơi liên tục, nhưng lòng anh thì vững lắm. Anh nhớ lời Bác Hồ dặn: ‘Chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng.’ Anh đi để con mình sau này không phải cầm súng, Năm à.”

Trọng dừng bút, nhấp một ngụm nước suối đựng trong bi-đông. Anh muốn viết về những khó khăn, nhưng lại sợ vợ lo lắng. Lương thực thiếu thốn, gạo trộn khoai, trộn bắp, có khi phải nhịn đói cả ngày. Bệnh sốt rét như một người bạn đồng hành không mời mà đến. Nhưng anh lại chọn viết về tình đồng chí.

“Năm ơi, em đừng lo cho anh. Ở đây anh em thương nhau như ruột thịt. Có củ khoai, củ sắn cũng chia đôi. Hồi chiều, anh Tư Bốn, quê Bến Tre, bị thương ở chân. Anh em thay nhau khiêng ảnh vượt qua đồng lầy về trạm xá. Anh Bốn cứ cười hi hi, nói: ‘Mất chân chứ không mất chí, tụi bay yên tâm, tao làm cách mạng bằng trái tim.’ Em thấy không, người chiến sĩ mình là vậy đó, gian khổ mà lúc nào cũng lạc quan. Anh cũng vậy, anh luôn giữ nụ cười.”

Trong tâm trí Ba Trọng, hình ảnh cô Năm hiện lên rõ nét. Năm là người phụ nữ miền Tây điển hình: chân chất, tháo vát, gánh vác việc nhà, việc đồng áng, đồng thời nuôi hai con nhỏ, che giấu cán bộ, tiếp tế lương thực cho cách mạng. Anh biết, cái gánh nặng trên vai vợ còn lớn hơn cả cái ba lô nặng trịch trên vai anh.

Anh quay sang viết về các con:

“Anh nhớ thằng Hai quá chừng. Nó lên bảy rồi phải không? Chắc nó cao bằng vai em rồi. Anh có nhờ chú Ba Hiền ở xã đội gửi về cho nó một cây súng gỗ anh tự tay làm, em nhận được chưa? Dặn con, súng là để giữ gìn hòa bình, không phải để gây chiến. Còn con Tư, con gái rượu của anh, nó hay khóc nhè không? Hồi xưa nó hay đòi anh kể chuyện cô Tấm. Em kể lại cho nó nghe đi nhé. Nói với hai con, ba chúng nó đang chiến đấu để mai sau chúng được đi học, được lớn lên trong hòa bình, không phải trốn chạy bom đạn nữa.”

Cây bút chì than lướt trên giấy. Anh viết về ước mơ của mình:

“Anh hứa với em, sau ngày giải phóng, anh sẽ về. Anh sẽ về cất lại cái nhà, lợp lại mái tranh. Anh sẽ dẫn hai con ra thị xã, mua cho chúng nó bộ quần áo mới, cái lồng đèn ông sao. Anh sẽ không đi đâu nữa, chỉ ở nhà làm ruộng, làm vườn với em, với các con. Mình sẽ sống một cuộc đời bình dị, em Năm nhé. Khi đó, anh sẽ kể cho em nghe hết, từ chuyện anh vượt sông Vàm Cỏ Đông, chuyện anh giật mìn ở cầu Bến Lức, chuyện anh em mình hát những bài ca cách mạng trong đêm rừng... Em chờ anh nhé. Chỉ còn một bước nữa thôi, chỉ một bước nữa thôi...”

Chữ viết của Ba Trọng bỗng trở nên run rẩy khi anh viết đến câu cuối cùng. Anh gấp lại bức thư, đưa lên mũi ngửi. Mùi giấy pơ-luya trộn lẫn mùi mồ hôi, mùi đất và mùi bùn, nhưng trong khoảnh khắc ấy, anh thấy thoang thoảng mùi bông bưởi, mùi khói bếp thân thuộc của quê nhà.

Anh muốn gửi đi ngay. Nhưng quy tắc của chiến trường không cho phép. Bức thư phải được chuyển về hậu cứ, rồi từ đó mới tìm cách gửi ra ngoài vùng địch kiểm soát. Anh phải chờ đến khi có đợt tiếp tế, hoặc có đồng chí được điều động về sau để giao phó.

Anh cẩn thận nhét bức thư vào một ống tre nhỏ đã được bịt kín hai đầu bằng sáp ong, rồi giấu sâu trong lớp vải lót của ba lô. Đó là "tài sản" quý giá nhất của anh trong đêm 28 Tết này.

Sáng hôm sau, tiếng còi báo động vang lên xé toang màn sương sớm. Đơn vị Ba Trọng nhận lệnh khẩn cấp tham gia trận đánh chốt chặn tại khu vực Xẻo Vẹt, một vị trí chiến lược quan trọng trên tuyến đường tiếp viện của địch.

Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt. Lực lượng địch với hỏa lực mạnh, được không quân yểm trợ, quyết tâm phá vỡ chốt chặn của quân Giải phóng. Ba Trọng cùng các đồng đội đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Anh ôm súng, liên tục di chuyển giữa làn đạn, kêu gọi anh em giữ vững trận địa.

Vào một thời điểm then chốt, khi địch đang tập trung hỏa lực vào ụ súng máy của đơn vị, Ba Trọng nhận thấy một quả đạn cối M79 đang bay thẳng về phía đồng đội mình. Không một chút do dự, anh bật dậy, đẩy người đồng chí đang giữ súng máy ra, và chỉ kịp hét lên một tiếng: "Tiến lên! Vì Miền Nam!"

Tiếng nổ xé tai. Ba Trọng ngã xuống, ngay tại giao thông hào mình vừa ngồi viết thư đêm qua. Anh hy sinh anh dũng, hai tay vẫn nắm chặt khẩu súng. Máu anh hòa vào bùn đất Sông Hậu, tô thêm màu đỏ tươi cho lá cờ giải phóng.

Đơn vị đã giữ vững chốt chặn. Trận đánh kết thúc thắng lợi, làm chậm bước tiến của địch, bảo vệ an toàn cho vùng căn cứ của ta.

Sau trận chiến, đồng đội Ba Trọng thu dọn chiến trường. Khi người chiến sĩ chính trị viên mở ba lô của anh để tìm giấy tờ, họ tìm thấy ống tre nhỏ bịt sáp ong. Bên trong là bức thư đã được anh nắn nót viết trong đêm cuối năm.

Bức thư chưa gửi đó, thấm đẫm mồ hôi và mang theo cả hơi ấm cuối cùng của người chiến sĩ, đã không đến được tay cô Năm như ước nguyện. Nó được trao lại cho đơn vị và sau đó, cùng với giấy báo tử, được chuyển về căn cứ Long An.

Nhận được tin anh Trọng hy sinh vào đêm Giao thừa, cô Năm ngã quỵ. Giữa lúc mọi nhà đang chuẩn bị đón mừng mùa xuân, nhà cô Năm đón một cái Tết tang tóc.

Cô Năm không khóc to. Cô ôm chặt bức thư, đọc đi đọc lại, để những dòng chữ của chồng mình sưởi ấm nỗi đau. Cô biết, người chồng của cô đã không hề nói dối. Anh đã chiến đấu để mang lại cái Tết không còn tiếng súng cho các con mình, và anh đã thực hiện lời hứa ấy bằng chính sinh mệnh của mình.

Bức thư, dù chưa gửi, đã trở thành di vật thiêng liêng nhất, là minh chứng cho tình yêu lứa đôi hòa quyện với tình yêu Tổ quốc. Cô Năm giữ bức thư ấy như giữ một lời thề. Cô tiếp tục công việc của một người mẹ, một chiến sĩ thầm lặng ở hậu phương. Cô nuôi con khôn lớn, dạy chúng học, kể cho chúng nghe những câu chuyện về người cha anh hùng, về lý tưởng cao đẹp của anh.

Năm 1975, Sài Gòn hoàn toàn giải phóng. Cả miền Nam hân hoan. Tiếng súng đã im bặt. Ước nguyện của Ba Trọng đã thành hiện thực.

Nhiều năm sau ngày đất nước thống nhất, tại một ngôi nhà nhỏ ven Sông Vàm Cỏ, mái tóc cô Năm đã điểm bạc. Cô ngồi bên cửa sổ, tay lần giở bức thư cũ kỹ. Dòng chữ đã phai, nhưng tình yêu thì vẫn vẹn nguyên.

Đứa con trai, giờ là một sĩ quan quân đội, và đứa con gái, giờ là một giáo viên, đều đã trưởng thành, sống một cuộc đời bình yên và no ấm, đúng như lời hứa của người cha đã khuất.

Cô Năm khẽ mỉm cười. Mùa xuân đang về, không còn mùi thuốc súng, chỉ còn mùi bông bưởi, mùi khói bếp. Bức thư chưa gửi của người chiến sĩ Nguyễn Văn Trọng đã không đến tay vợ trong năm Tân Hợi ấy, nhưng nó đã mang lại một mùa xuân vĩnh cửu, một mùa xuân hòa bình trọn vẹn, không chỉ cho gia đình anh, mà còn cho cả dân tộc Việt Nam. Đó là một bức thư được viết bằng máu và bằng tình yêu Tổ quốc, một bức thư mà ý nghĩa của nó đã vượt qua khuôn khổ của một trang giấy, trở thành một trang sử bi tráng và hào hùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Bức Thư Của Người Chiến Sĩ Sông Hậu | Câu chuyện thời hoa lửa