BỨC THƯ GỬI HẬU THẾ VÀ BA CHIẾN SĨ GIẢI PHÓNG QUÂN GIỮA CÁNH RỪNG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
Giữa cánh rừng nguyên sinh tại thượng nguồn sông Đồng Nai bên cạnh 3 bộ hài cốt của 3 chiến sĩ thuộc Tiểu đội 1 (Trung đội Ký Con, Trung đoàn Bình Giã, Quân giải phóng miền Nam) một bức thư được gói kỹ càng, đó là một bức thư đặc biệt gửi cho những người ở lại của ba liệt sĩ, họ là Lê Hoàng Vũ quê Thái Bình, Nguyễn Chí quê Quảng Ngãi và Trần Viết Dũng quê ở Sài Gòn. Trên 3 chiếc võng dù cùng cột chung đầu vào một thân cây, là 3 bộ hài cốt của 3 chiến sĩ Quân giải phóng. Cạnh mỗi bộ hài cốt là mộ
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng mỗi khi người trẻ nghĩ về nó, cảm giác đầu tiên luôn là sự nghẹn lại. Bởi càng lớn lên, chúng tớ càng hiểu rằng cái giá của chiến tranh không chỉ tính bằng những năm tháng đạn bom, mà bằng chính sinh mạng, tuổi trẻ và tương lai của biết bao con người. Có những giấc mơ chưa kịp gọi tên đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất. Có những mái nhà không bao giờ sum họp trọn vẹn. Có những người mẹ, người vợ mang nỗi chờ đợi kéo dài suốt một đời. Những trang sử không khép lại chỉ bằng một dấu chấm hết, mà bằng những khoảng lặng khiến người đọc phải dừng lại vài giây để suy ngẫm. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng mỗi lần nhìn vào những dòng chữ ấy, ta như nghe được tiếng vọng của một thời hoa lửa đầy rực rỡ— nơi tuổi trẻ phải đổi bằng cái giá quá đắt để bảo vệ đất nước. Và chính từ những câu chuyện đời thường, những phận người bé nhỏ bị cuốn vào vòng xoáy lịch sử, ta mới hiểu rằng, đằng sau hai chữ “hòa bình” hôm nay là biết bao hy sinh không bao giờ đòi trả lại.
Và câu chuyện về những chàng trai, cô gái mười tám đôi mươi xông pha chẳng ngại gian khổ có lẽ để lại rất nhiều những suy nghĩ cho bản thân chúng em. Họ là những thanh niên cống hiến hết mình để cho ngày hoà bình trở lại trên quê hương Việt Nam.
Trong kháng chiến trống Mỹ, có những bông hoa bất tử vươn lên mạnh mẽ trong bom đạn và mãi ghi dấu ấn trong lòng những con người Việt Nam sau này. Và sau đây là câu chuyện về “Sự hy sinh oanh liệt của ba chiến sĩ ở cánh rừng miền Đông nam bộ” mà chúng em muốn gửi tới các độc giả.

Giữa cánh rừng nguyên sinh tại thượng nguồn sông Đồng Nai bên cạnh 3 bộ hài cốt của 3 chiến sĩ thuộc Tiểu đội 1 (Trung đội Ký Con, Trung đoàn Bình Giã, Quân giải phóng miền Nam) một bức thư được gói kỹ càng, đó là một bức thư đặc biệt gửi cho những người ở lại của ba liệt sĩ, họ là Lê Hoàng Vũ quê Thái Bình, Nguyễn Chí quê Quảng Ngãi và Trần Viết Dũng quê ở Sài Gòn. Trên 3 chiếc võng dù cùng cột chung đầu vào một thân cây, là 3 bộ hài cốt của 3 chiến sĩ Quân giải phóng. Cạnh mỗi bộ hài cốt là một khẩu AK han rỉ, một đôi dép cao su. Những bí ẩn về sự hy sinh của 3 chiến sĩ giải phóng quân nhanh chóng được “giải mã” bởi bức thư bọc gói kỹ càng trong ni lông và được cột chặt ở đầu võng. Tuy những dòng viết run rẩy, nguệch ngoạc (vì bị thương, đói, khát), nhưng với những ý tứ, câu từ rất sáng rõ. Dưới đây là trích một đoạn trong bức thư:
"Chúng tôi mong được ghi nhận rằng chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và đã chết trong một mùa Xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái chết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn... Xin cho chúng tôi gởi đến những người đang sống, sống đúng ý nghĩa của nó lời biết ơn sâu sắc vì các bạn đang làm cho cái chết của chúng tôi giữ được đầy đủ ý nghĩa.
Các bạn đang lao động quên mình cũng như chúng tôi đã chiến đấu quên mình cho đất nước ta ngày nay tươi đẹp, cho dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, cho xã hội ta ngày càng dân chủ công bằng".

Ngày đó, sau trận tập kích của Trung đoàn Bình Giã và một số đơn vị khác thuộc Bộ Tư lệnh Miền, diệt một lực lượng lớn quân Mỹ – Ngụy ở Bông Trang – Nhà Đỏ (Thủ Dầu Một), tháng 2/1966, trên đường rút về hậu cứ, một tiểu đội, trong đó có các anh Vũ, Chí, Dũng, được phân công nghi binh, đánh lạc hướng địch, để trung đoàn trở về an toàn. Một tiểu đội 11 người với những chiếc bật lửa và vài chiếc máy thông tin, mỗi người một khẩu AK đã làm tròn nhiệm vụ tạo dấu vết một trung đoàn hành quân về hậu cứ sau trận tập kích thắng lợi. Sau mấy ngày băng rừng, vượt suối, hứng chịu hàng chục phi vụ rải thảm của B52, 8 người hy sinh; phương tiện thông tin hư hỏng.
Ba người chiến sĩ kiên cường này đã trải qua những ngày “đói quay đói quắt…, khát như khô cháy cả ruột gan…” không những thế các anh còn mang trên mình những vết thương đau đớn, dồn chút sức lực cuối cùng để đến cánh rừng này, vì kiệt sức chẳng thể đi tiếp cũng chẳng có phương tiện liên lạc nên các anh quyết định chọn khu rừng này chính là nơi yên nghỉ cuối cùng.
“Quyết định rồi chúng tôi tự thấy khoan khoái lạ thường. Sáng suốt hẳn lên… Dừng lại ở đây với một ít sức lực còn lại viết một tường trình cuộc chiến đấu gửi lại cho ai đó tìm được…
Mỗi người đứng trước cái chết của mình cố gắng dùng một chút sức còn lại, quả thật rất ít ỏi, để thay nhau chấp bút. Chúng tôi đã chọn cây gỗ tơ còn sống lâu này làm trụ, giúp nhau mắc võng cho từng người, thống nhất nhau tư thế nằm trên võng, sắp xếp vài đồ vật còn lại… Chúng tôi sẽ chết ung dung thư thái như đã từng sống mãnh liệt mà thư thái với công việc chúng tôi đã làm…”.
Những người chiến sĩ ấy đã chọn cho mình cái chết, các anh để người yếu viết trước, người còn sức viết sau, thay nhau dùng chút sức lực yếu ớt chắp bút nói về cuộc chiến đẫm máu những ngày qua, về sự hy sinh oanh liệt của những người đồng đội và đặc biệt là bày tỏ nỗi niềm da diết với bố mẹ, vợ con, với người thân, quê hương…cũng như mang theo niềm tin vào một ngày không xa chiến dịch chống Mỹ sẽ toàn thắng rực rỡ, hoà bình sẽ quay trở lại với Tổ quốc thiêng liêng.
Sau đó các anh Lê Hoàng Vũ, Nguyễn Chí lần lượt ra đi, người cuối cùng chắp bút chính là anh Trần Viết Dũng. Những câu từ như dứt ra từ bên trong ruột gan của mình.
"Hay trong trường hợp đến 50-100 năm sau, thư này mới tới những người, có thể gọi là thế hệ mai sau, thì cho phép chúng tôi gửi lời chào xã hội chủ nghĩa, cho phép chúng tôi bày tỏ vui mừng tuyệt diệu vì hạnh phúc và hòa bình đang tràn ngập hành tinh chúng ta mà chúng tôi trở thành những hạt bụi có ích. Và hơn thế nữa nếu được, cho chúng tôi gửi lời chào niềm nở nhất đến những con người ở những vì sao xa xôi, những người bạn mới giữa các hành tinh".
Bao nhiêu năm tháng trôi đi, vào mùa xuân năm 1984, trong một chuyến khảo sát để quy hoạch cơ sở sản xuất, đoàn cán bộ Nông trường “Giải phóng” – tỉnh Sông Bé (nay thuộc Bình Dương) do đồng chí Nhân – Thượng tá quân đội chuyển ngành, nguyên cán bộ Trung đoàn Bình Giã - dẫn đầu, ngược thượng nguồn sông Đồng Nai tới một vùng đồi rừng nguyên sinh đã xúc động, bàng hoàng trước một cảnh tượng rất đỗi thiêng liêng. Trên 3 chiếc võng dù cùng cột chung đầu vào một thân cây, là 3 bộ hài cốt của 3 chiến sĩ Quân giải phóng. Sau bao nhiêu năm đó vẫn là một hình ảnh vừa ám ảnh, vừa để lại sự xúc động khiến trái tim của những người thế hệ đi sau phải hẫng một nhịp. Ba người chiến sĩ ấy đã hoá thân vào dáng hình đất nước, các anh không chết, các anh bất tử mãi trong lòng người Việt Nam.

Câu chuyện về ba chiến sĩ Vũ – Chí – Dũng giữa cánh rừng miền Đông Nam Bộ giống như một vết cắt lặng lẽ mà sắc nhói trong lịch sử dân tộc. Đọc từng dòng thư các anh để lại, người trẻ hôm nay không chỉ nhìn thấy những chiến binh quả cảm đang đối mặt cái chết, mà còn cảm nhận được một thứ ánh sáng rất khó diễn tả – ánh sáng của niềm tin, của ý chí và của tình yêu đất nước lớn hơn chính bản thân mình.
Điều khiến chúng ta xúc động nhất không phải là sự ra đi, mà là cách các anh chọn đối diện với nó. Giữa đói khát, thương tích và sự vây hãm của kẻ thù, các anh vẫn giữ được sự bình thản kỳ lạ, vẫn nghĩ về đồng đội, về nhân dân, về đất nước, về cả những thế hệ 50 – 100 năm sau. Trong khoảnh khắc sinh tử, các anh không gửi lại lời oán trách, mà gửi lại niềm tin vào tự do, vào hòa bình, và mong muốn những người đang sống hãy sống xứng đáng với cái giá mà bao người đã phải trả.
Có lẽ đó chính là điều khiến câu chuyện này trở nên thiêng liêng: ba chiến sĩ trẻ không chỉ hy sinh thân xác, mà còn hóa thành những “đoá hoa”, gửi lại cho chúng ta cả một lời nhắc nhở về giá trị của hòa bình.
Chiến tranh có thể kết thúc, nhưng sự can trường, lương thiện và nhân văn trong từng câu chữ mà các anh viết ra – vẫn còn nguyên hơi ấm của một trái tim Việt Nam, của một thời hoa lửa rực rỡ.
Ngày hôm nay, khi đọc lại câu chuyện của ba chiến sĩ năm xưa, ta mới thấm thía rằng hòa bình không phải món quà được trao tặng, mà là di vật được gửi lại từ những cuộc đời nằm xuống. Giữa cuộc sống đủ đầy, đôi khi ta vô tình quên mất rằng để ta có thể bước đi trong bình yên, đã có những con người bình thường nhưng vĩ đại như Vũ, Chí, Dũng chọn nằm lại trong rừng sâu.
Các anh không kịp trở về, nhưng tên các anh đã trở thành một phần của đất nước này – lặng lẽ mà bất tử. Và chúng ta, những người đang sống, chỉ có thể cúi đầu biết ơn, sống có ý nghĩa hơn, tử tế hơn, để không phụ những điều mà các anh đã gửi gắm trong lá thư cuối cùng.
Ba chiến sĩ năm ấy đã hoàn thành nhiệm vụ. Còn chúng ta hôm nay có trách nhiệm tiếp bước: giữ lấy hòa bình, giữ lấy nhân nghĩa, và giữ trong tim ký ức về những con người đã ngã xuống để Tổ quốc được đứng thẳng, hiên ngang giữa trời.



