BỨC THƯ MÁU
Bà Trần Thị Tiết, bí danh Út Hạnh, sinh năm 1935, quê làng Giao Thạnh quận Thạnh Phú (nay là xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú), một vùng đất nghèo, chua mặn với những rừng dừa nước, rừng đước bạt ngàn từng là căn cứ địa của tỉnh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Thuở nhỏ, Út Hạnh học trường làng. Năm 14 tuổi, Út Hạnh tham gia hoạt động cách mạng với nhiệm vụ là giao liên cho các đơn vị ở địa phương. Năm 17 tuổi, Trần Thị Tiết - Út Hạnh được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Từ đây mở ra bước chuyển hướng trong cuộc đời người thanh nữ, sẵn sàng thoát ly gia đình, đem tất cả năng lực của mình phục vụ cách mạng. Qua nhiều năm cống hiến tuổi thanh xuân cho cách mạng, Út Hạnh được rèn luyện trở thành người cán bộ cách mạng trung kiên, có bản lĩnh chính trị vững vàng.
Sau Hiệp định Genève, Út Hạnh được tổ chức giao nhiệm vụ củng cố và phát triển phong trào cách mạng ở các huyện Ba Tri, Mỏ Cày và Thạnh Phú. Ngày 1/6/1960, để chuẩn bị cho Đồng khởi đợt 2. Út Hạnh cùng với nhiều cán bộ lãnh đạo của huyện Thạnh Phú tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng, thu hút hơn 300 người tham gia với khí thế cách mạng sôi sục. Giặc điên cuồng tổ chức hành quân càn quét để dập tắt phong trào. Út Hanh không kịp rút vào căn cứ nên bị bắt. Tuy nhiên, chị đã kịp giấu toàn bộ tài liệu xuống bùn, không để cho giặc lấy. Chúng giam chị ở nhà lao huyện Thạnh Phú, sau đó giải về Khám Lá Bến Tre.
Trong chốn lao tù, bị bọn ác ôn dùng đủ mọi kiểu nhục hình tàn bạo nhưng chị cố gắng chịu đựng, thà chết để bảo vệ cơ sở cách mạng, không khai báo. Sau hơn một năm chịu nhiều cực hình tàn độc của giặc, tưởng chị đã chết, chúng đem quăng vào nhà xác. Tại đây, nhờ sự kiên trì theo dõi hỗ trợ của một nữ cơ sở cách mạng, đồng đội, người dân đã lẻn vào đưa chị ra ngoài. Thân hình cô gái ngày nào khỏe mạnh gần 50 kg, giờ đây chỉ còn không đầy 20 kg. Huyện ủy Mỏ Cày quyết định đưa Út Hạnh sang điều trị ở trạm quân y huyện đóng tại xã Thành An. Trạm trưởng là y tá Đoàn Văn Thời (bí danh Văn Anh) lúc đầu từ chối vì ở đây chỉ chữa chiến thương, không chữa cho người khác. Nhưng sau khi nghe câu chuyện chiến đấu của chị, anh chấp nhận. Từ đó, với sự chăm sóc tận tình của các chị, các mẹ ở quanh trạm quân y, dần dần sức khỏe Út Hạnh khá hơn. Riêng Văn Anh đã có nhiều lần trích máu của mình để tiếp máu cho cô gái - người cán bộ trẻ bệnh nhân đặc biệt của trạm. Văn Anh còn về quê mang đứa cháu gái lên để giúp nuôi Út Hạnh. Niềm tin vào cách mạng sẽ thắng lợi và tình yêu với đồng bào, đồng chí, quê hương đã làm nên sức sống kỳ diệu trong chị.
Tháng 5 năm 1961, từ giường bệnh, Út Hạnh đã viết một bức thư kể lại tội ác của giặc gọi là “Bức thư máu", ký tên Hạnh. Bức thư đã được chuyển đến miền Bắc ngày 9/3/1963 thông qua Hội đồng hương Bến Tre ở Hà Nội. Thư có đoạn: “Bọn Mỹ - Diệm là một lũ tanh hôi man rợ. Tôi nghĩ không còn chữ gì để nói cho hết các tánh chất độc ác tàn bạo của chúng nữa. Trong người tôi còn một ít máu, chúng cũng định bóc lột cho hết.
Cứ mỗi lần chúng lấy máu là mỗi lần tôi chết giấc rất lâu, vài ngày chúng lại chích một lần. Cho đến khi chúng thấy tôi không còn máu để lấy nữa và tôi không còn cử động được, chúng đem bỏ tôi trong nhà xác.
Nay tôi được cứu thoát về đây, tính ra suốt hơn một năm bị khảo tra bằng đủ thứ cực hình nơi Khám Lá Bến Tre. Tôi chưa chết hẳn, nhưng người tôi chỉ còn sống từ ngực trở lên. Từ bụng trở xuống chân đã tê liệt rồi.
Về đây, được bà con hết lòng chăm sóc, ăn uống, thuốc men và nỗi vui mừng thoát khỏi tay giặc. Vui mừng trước không khí sôi nổi của bà con, chị em đấu tranh. Tôi dù chết hết nửa thân người nhưng sao đầu óc tôi còn sáng suốt lắm. Gắng gượng ghi lại mấy dòng này thuật lại một phần nào mà tôi còn nhớ về sự tra tấn dã man của bè lũ Mỹ - Diệm cho ông bà, cô bác, anh chị em nghe, với một lòng mong mỏi làm sao mình đấu tranh quyết liệt hơn nữa để tiêu diệt bọn chúng."
Bức thư đã làm lay động người đọc, nhân dân thêm cảm phục tấm gương trung kiên bất khuất của người con gái Bến Tre.
Qua 5 năm điều trị, sống trong tình thương đồng chí, đồng bào, sức khỏe của chị Hạnh được hồi phục khá hơn. Tình yêu giữa cô Út Hạnh và anh y sĩ Văn Anh nảy nở và trở nên sâu đậm. Hôn lễ được tổ chức vào cuối năm 1966 trong niềm vui của bạn bè, đồng chí và bà con cơ sở cách mạng.
Năm 1966, bất chấp những di chứng giặc tra khảo tàn nhẫn để lại trên cơ thể và tinh thần, như một người thương binh dũng cảm bậc nhất, Út Hạnh cùng chồng tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Riêng chị công tác ở Ban Chấp hành Hội Phụ nữ giải phóng. Năm 1974, Út Hạnh được bầu vào Tỉnh ủy.
Sau ngày chiến thắng 30/4/1975, mặc dù là thương binh 1/4, Út Hạnh vẫn cống hiến tích cực với chức vụ là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bến Tre suốt hai nhiệm kỳ từ 1977 đến tháng 4 năm 1987 với nhiều đóng góp tích cực cho phong trào phụ nữ địa phương.
Xét thành tích vượt bậc của người thương binh, chiến sĩ cách mạng dũng cảm, trung kiên, tận lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, năm 2010, Chủ tịch nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định phong tặng Trần Thi Tiết danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Một điều đáng quý, chồng bà cũng được Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông Văn Anh tên thật là Đoàn Văn Thời, sinh năm 1925, quê ở xã An Định, huyện Mỏ Cày. Ông xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, tham gia cách mạng thời kỳ chống Pháp (tháng 10/1947), nhập ngũ và chiến đấu trong Đại đội 1053 (giao liên Quân khu 8). Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1948. Trong gia đình ông, có bốn người bị giặc bắn chết gồm cha mẹ, anh và chị ruột.
Sau Hiệp định Genève, Văn Anh được phân công ở lại quê hương gây dựng cơ sở cách mạng. Đồng khởi năm 1960, ông làm Tổ trưởng Tổ hành động. Tổ của ông phát huy tốt cách đánh "ôm hè, bắt hè" trong Đồng khởi. Riêng Văn Anh đã vật ngã và bắt sống tên đội Cà, thu một khẩu súng và hai quả lựu đạn. Sau Đồng khởi, Văn Anh được giao nhiệm vụ xây dựng tổ chức Quân y huyện Mỏ Cày trong điều kiện cơ sở vật chất và cán bộ gần như bắt đầu từ con số không. Với sự nỗ lực của cá nhân ông và sự hỗ trợ của tổ chức, chỉ trong một thời gian ngắn, Quân y huyện hình thành và hoạt động với 7 cán bộ có chuyên môn được ông đề xuất tăng cường về. Riêng bản thân ông cũng được cử đi đào tạo ngành y trong kháng chiến. Ông đã trực tiếp điều trị nhiều ca chiến thương tưởng chừng như không thế bình phục nổi. Nhưng nhờ quyết tâm cao, tận tụy vì đồng đội, ông đã cùng đồng nghiệp cứu chữa thành công nhiều trường hợp nặng. Trong đó, có trường hợp cứu chữa cho Út Hạnh, sau thành bạn đời của ông như đã nói ở trên. Hay trường hợp ông Mười Tuyên, chiến đấu với địch bị trúng đạn, phối lòi ra ngoài, gây xương sườn, được ông kiên trì cứu chữa đã bình phục trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Năm 1968, Quân y huyện Mỏ Cày nhận một lúc 6 chiến thương dân công hỏa tuyến bị trúng đạn vô cùng trầm trọng. Trong một đêm, ông Văn Anh đã trực tiếp làm phẩu thuật cho cả 6 người và cứu sống họ, dưỡng thương bình phục để họ về lại đơn vị tiếp tục chiến đấu. Suốt thời kỳ chiến tranh, ông Văn Anh và tập thể Quân y huyện Mỏ Cày đã nhận 2.500 chiến thương và ca bệnh là nhân dân. Hầu hết đã được ông và tập thể cứu chữa thành công. Có những lúc cao điểm, đơn vị nhận cùng lúc đến 120 thương binh, nhưng tập thể đơn vị đã khéo sắp xếp, dựa vào nhân dân và giải quyết cứu thương, chữa lành cho các thương, bệnh binh.
Ông Văn Anh vừa là người tổ chức điều trị cho thương binh, vừa là người chỉ huy đơn vị chiến đấu bảo vệ quân y, bảo vệ thương binh, bảo quản thiết bị y tế. Ông đã cùng đơn vị hàng trăm lần tổ chức chống địch càn quét vào căn cứ. Ngoài ra, ông còn chỉ huy tập thể đơn vị chế ra chiếc giàn thun bắn lựu đạn vào đồn địch khiến chúng hoang mang, co cụm, giúp bảo vệ an toàn cho quân y và thương bệnh binh.
Sau ngày giải phóng miền Nam, ông tiếp tục công tác trong cương vị lãnh đạo ngành y tế huyện Mỏ Cày cho đến lúc nghỉ hưu.



