Bức thư nằm lại thành cổ Quảng TrỊ
Bức thư nằm lại thành cổ Quảng Trị
Trong chuyến thực tế do Trường Đại học An Giang tổ chức cho sinh viên đến tham quan tại thành cổ Quản Trị tôi và các bạn được nghe chị hướng dẫn viên du lịch thuyết minh về những di vật còn lại sau 81 ngày đêm khốc liệt và đặc biệt là câu chuyện đầy xúc động của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Giữa không gian trầm mặc của thành Cổ, từng lời kể như tái hiện lại những năm tháng chiến tranh ác liệt, giúp chúng tôi cảm nhận sâu sắc hơn về sự hy sinh thầm lặng mà vô cùng vĩ đại của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Tôi thực sự không ngăn được những dòng nước mắt khi được lắng nghe câu chuyện đầy xúc động về những dòng tâm thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh để lại trước ngày ra đi. Bức tâm thư với những trang viết đầy lắng đọng của người chiến sĩ gửi đến người mẹ thân yêu, người vợ dịu hiền và ý thức trách nhiệm trước vận mệnh Tổ quốc.
Bao nhiêu người về với Thành cổ Quảng Trị đã rơi lệ, đã khóc vì cảm động trước những tình cảm mà người lính dành cho gia đình, khâm phục tinh thần quả cảm, bất khuất và kinh ngạc trước sự linh thiêng của linh hồn người liệt sĩ. Dường như trước khi đến chiến trường Quảng Trị, liệt sĩ Huỳnh đã linh tính rằng sẽ có ngày đất nước ta thống nhất và ngày đó là ngày anh vĩnh viễn nằm lại với đất mẹ. Nhưng anh vẫn khắc khoải, day dứt lỡ mai đây “Nam Bắc sum họp một nhà” thì cũng đừng quên nấm mồ của anh:
“Nếu mai đây bạn về chốn cũ
Tìm giúp tôi người mẹ thương yêu
Nói với người rằng vì nghĩa vu
Đứa con thơ đã thác một chiều”.
Bức thư được xem như là bản “di chúc” thiêng liêng của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, được viết từ chiến trường Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm khói lửa, được gia đình, bạn bè và đồng đội cất giữ và trao tặng cho Bảo tàng Thành Cổ Quảng Trị sau 40 năm. Qua thời gian, Trung tâm Bảo tồn Di tích và Danh thắng tỉnh Quảng Trị đã tiến hành phục chế, sao bản lại bức thư như nguyên bản và tổ chức hành hương về quê hương Kiến Xương (Thái Bình) để trao lại cho gia đình.
Bức thư được liệt sĩ Lê Văn Huỳnh dự cảm về ngày mất của mình. Anh viết ngày 11/9/1972, trước ngày anh hy sinh đúng 3 tháng 20 ngày (hy sinh ngày 2/1/1973). Ẩn sâu trong 10 trang thư hoen ố màu thời gian ấy, là những câu chuyện cảm động của những lời dự cảm về ngày ra đi, là tình thương gửi đến mẹ yêu, là nghĩa vợ chồng sâu đậm, tình cảm của những người thân trong gia đình. Và trên hết, là lý tưởng “Tổ quốc cần sẵn sàng hiến thân mình” mà không chút đắn đo. Bức thư như một thông điệp gửi đến mai sau hãy biết “sống đẹp, sống có ích”, sống có lý tưởng, ước mơ và có giá trị giáo dục không những cho hôm qua, hôm nay và mãi mãi cho muôn đời sau.
Linh cảm ngày ra đi
Mở đầu bức thư anh linh cảm rõ ngày mình sẽ ra đi, nên đã chia sẻ với người thân bằng những lời gan ruột nhất: “Con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng trước khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất” thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột… Mẹ kính mến! Lớn lên trong tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa đền đáp được công ơn to lớn đó của mẹ thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm bố con rồi. Thư này tới tay mẹ, chắc mẹ buồn lắm. Lòng mang nặng đẻ đau giọt máu đào hơn ao nước lã, lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời…”.
Gửi đến người mẹ hiền hậu nơi quê nhà với tình cảm của người con phương xa, anh viết: “Mẹ kính mến! Con đi mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con được thoải mái bay đi… Thôi mẹ nhé đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ Quốc”.
Bên cạnh những dòng thư viết vội gửi đến người mẹ già yếu, anh cũng dành tình cảm cho người vợ mới cưới, cho người thân với những gửi gắm, dặn dò tha thiết. Tình nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt luôn hằn sâu trong tâm thức anh. Anh nhập ngũ vào chiến trường Quảng Trị khi vừa làm đám cưới với chị Đặng Thị Xơ chỉ đúng có 6 ngày. Kể từ đó, chị đã mấy chục năm đằng đẵng thờ chồng.
Anh viết: “Em sẽ đọc bức thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe đến tất cả những người quen thân thuộc trên quê hương trong buổi lễ truy điệu lịch sử này… Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hòa bình hãy nhớ tới anh. Nếu thương anh thực sự, thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông. Từ thị xã ngược qua cầu hỏi thăm về Nhan Biều 1, sẽ thấy tấm bia ghi dòng chữ tên anh đục trên mảng tôn…”.
Không những thế, anh còn tiên đoán được ngày mình hy sinh cũng như cái nơi mà anh sẽ ngã xuống, địa điểm đồng đội sẽ chôn cất. Trong bức thư viết trước ngày mất, người chiến sĩ trẻ Lê Văn Huỳnh đã dự cảm chính xác về ngày 2/1/1973 anh sẽ hy sinh. Đây cũng chính là tròn 1 năm kỷ niệm ngày cưới của anh với người vợ hiền Đặng Thị Xơ (quê nhà Thái Bình).
Không dừng lại ở đó, sự linh cảm kỳ diệu của bức di thư được anh viết rất chi tiết về ngày mình ra đi. Trong thư anh Lê Văn Huỳnh đã ghi rõ thời gian mất, địa điểm nơi mình hy sinh. Cũng chính nhờ vậy mà mà gia đình đã tìm được hài cốt của anh sau 30 năm lưu lạc (1972 - 2002). Đọc xuyên suốt bức thư, anh đã nhiều lần nhắc đến ngày mình hy sinh và nơi anh sẽ nằm xuống. Sau này, hòa bình lập lại, cũng nhờ bức thư này, đồng đội, người thân đã tìm thấy hài cốt anh nằm “ẩn mình” bên dòng sông Thạch Hãn.
Tôi có thể tưởng tượng được hình ảnh người mẹ đợi con, vợ đợi chồng nhuốm lên dáng người hanh hao, khô gầy và đôi mắt buồn thăm thẳm, nỗi buồn khắc khoải chờ mong mấy chục năm dài đằng đẵng của hai người phụ nữ nơi quê nhà ấy.
Chị hướng dẫn viên du lịch kể rằng: Ông Lê Lương Thọ 1 trong những người lầm việc trong bảo tang hồi tưởng lại ngày ông cùng đồng nghiệp của Bảo tàng về quê hương Thái Bình để trao lại Bức di thư của Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh: “Mỗi lần nhớ chồng, chị Xơ lại đem bức thư ra đọc và không biết bao lần chị đã thức trắng đêm, khóc vì nhớ thương… Bức thư là một kỷ vật vô cùng thiêng liêng. Chị cũng từng tâm niệm: “Anh Huỳnh hy sinh, đó là nỗi đau lớn, nhưng tôi vẫn tự hào về một người chồng đã hy sinh góp phần cho độc lập tự do của Tổ quốc. Vì vậy tôi tâm niệm sẽ sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của anh, để linh hồn anh được thanh thản!”.
Bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đã trở thành sức mạnh giúp hai mẹ con chị Xơ vượt qua mất mát, đau thương và những khó khăn của cuộc sống đời thường, để vững vàng kiên trinh. Hơn 50 năm đã qua đi kể từ khi anh Huỳnh hy sinh, chị Xơ như một con thoi, cần mẫn “dệt” những niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, vào nỗi đợi chờ. Và rồi, Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh sau mấy mươi năm nằm lại Thành cổ Quảng trị đã được đón về quê nhà, an táng tại nghĩa trang xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Lá thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh không chỉ là lời gửi lại gia đình, mà còn là bản hùng ca thấm đượm lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần hi sinh của thế hệ cha anh nơi Thành cổ Quảng Trị. Mỗi dòng chữ của anh vẫn còn vang vọng như lời nhắc nhở đầy thiêng liêng về giá trị của hòa bình hôm nay. Khép lại trang thư, mỗi chúng tôi càng thêm trân trọng quá khứ, biết ơn những người đã ngã xuống và tự nhủ phải sống xứng đáng hơn với sự hy sinh cao cả ấy.


