Bức thư tay của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh
Trong dòng chảy hào hùng nhưng cũng đầy máu và hoa của lịch sử dân tộc, có những trang sử được viết bằng đại bác, chiến hào và những trận đánh long trời lở đất; nhưng cũng có những trang sử thầm lặng, được khắc ghi bằng nước mắt, bằng máu và nét mực run rẩy dưới ánh đèn dầu nơi hầm trú ẩn. Đối với tôi lớn lên với những câu chuyện kể về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của bà nội, ấn tượng nhất là bức thư tay của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh viết nơi chiến trường Thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972 không đơn thuần là một kỷ vật thời chiến. Đó là một chứng tích lịch sử đặc biệt, một tượng đài bằng ngôn từ về đức hy sinh, tình yêu và lý tưởng bất tử của một thế hệ thanh niên Việt Nam đã hiến dâng tuổi trẻ của mình cho sự nghiệp thống nhất cho Tổ quốc.
Bức thư dài mười trang được anh viết vào ngày 11 tháng 9 năm 1972, giữa những ngày ác liệt nhất của chiến dịch 81 ngày đêm thành cổ Quảng Trị. Trong căn hầm nhiều mùi khói súng, dưới ánh đèn dầu le lói và tiếng pháo rền không ngớt, người lính trẻ đối diện với cái chết không phải bằng nỗi sợ hãi, mà bằng sự bình tĩnh và một linh cảm kỳ lạ về sự ra đi của chính mình.
Trước hết, bức thư là bài ca bi tráng về chữ hiếu và trách nhiệm làm con. Từng dòng chữ anh gửi về cho mẹ già trĩu nặng ân tình: "Mẹ kính mến! Thư này tới tay mẹ chắc mẹ buồn lắm... Con đi mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như con lúc nào cũng ở bên mẹ..." Lời tạ lỗi của người con chưa kịp đền đáp công lao sinh thành, dưỡng dục chạm đến tận cùng cõi lòng của bất kỳ ai đọc lại. Anh không trốn tránh thực tại, anh thấu suốt nỗi đau người mẹ có con ngã xuống vì đất nước, nhưng anh mong mẹ tự hào vì con trai mẹ đã sống và hy sinh xứng đáng là một người lính kiên trung.
Thế nhưng, điều khiến bức thư vượt lên trên một lá thư gia đình thông thường, chạm đến tầm vóc của một tác phẩm nhân văn vĩ đại, chính là những lời ruột gan gửi tới người vợ trẻ. Mối tình sáu ngày son trẻ ấy bước vào trang thư không bi lụy, mà lấp lánh sự vị tha và lòng bao dung vô bờ: “Em yêu thương. Mọi lá thư đến với em đều là nguồn động viên em khi xa anh. Song, lá thư này đến tay em sẽ là nỗi buồn lớn nhất. Chúng ta sống với nhau chưa được bao lâu, thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao yêu thương, trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều. Em chưa được hưởng diễm phúc ấy đã phải xa anh…. Anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư này, nhưng em hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại. Anh chỉ mong em khỏe, yêu đời, nếu có điều kiện, hãy cứ đi bước nữa, vì em còn trẻ lắm. Anh chỉ mong em sẽ luôn nhớ đến anh và hãy thắp hương cho anh vào ngày giỗ anh. Hãy là người con dâu hiếu thảo của mẹ, là người em ngoan của các anh chị anh…” đây là minh chứng cho một tình yêu đẹp thời chiến dù có là hi sinh nhưng vẫn luôn nhớ về nhau
Anh hy sinh vào ngày 2/1/1973, đúng kỷ niệm tròn 1 năm ngày cưới. Và những ngày 2/1 sau này là những ngày chị buồn nhất, khóc nhiều nhất và cũng thương anh thật nhiều. Nhưng thương anh bao nhiêu, chị tự hào bấy nhiêu. Tự hào vì anh là người lính dũng cảm, tự hào vì anh đã hy sinh vì lý tưởng cao đẹp. Đêm đêm, trong căn buồng cưới ngày xưa, chị tiếc vì chưa kịp có với anh một đứa con. Bao nhiêu tình cảm chị dành cả cho mẹ chồng. Chị chăm sóc bà cụ chu đáo từng bữa ăn giấc ngủ. Bà con nơi đây bảo rằng, hiếm có nàng dâu nào hiếu nghĩa được như chị. Bà cụ cũng thương con dâu lắm, không biết bao lần bà thúc giục con dâu đi bước nữa, để có người nương tựa lúc tuổi già. Song chị chỉ lắc đầu, ứa nước mắt. Cuối năm 1977, bà cụ ốm nặng và ra đi trong sự thanh thản. Sau ngày hòa bình lập lại, dù đã nhiều lần dự định đi tìm kiếm mộ anh nhưng phải đến năm 2002, sau 30 năm chị mới hoàn thành được tâm nguyện của anh. Theo chỉ dẫn trong bức thư của anh, chị đã về Quảng Trị và thật kỳ lạ, tất cả đều diễn ra đúng như anh mô tả, chỉ khác một chút là mộ anh được tìm thấy ở thôn Thượng Phước, chứ không phải ở thôn Nhan Biều 1, hai thôn này nằm cạnh nhau.
Đứng trên bục giảng hôm nay, khi giảng về giai đoạn cam go của hiệp định Paris và cuộc đọ sức tại chiến trường Quảng Trị 1972, tôi thường không bắt đầu bài học bằng những con số khô khan về tấn bom hay số đợt xuất kích của kẻ thù. Tôi chọn kể cho học trò nghe về bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh.Bởi qua từng con chữ ấy, lịch sử không còn là dĩ vãng đóng khung trong sách giáo khoa, mà trở nên sống động, nhức nhối và thiêng liêng. Bức thư trả lời cho thế hệ hôm nay câu hỏi: Điều gì đã làm nên sức mạnh để một dân tộc nhỏ bé đánh thắng những đế quốc hùng mạnh trên thế giới? Sức mạnh ấy không nằm ở trang bị vũ khí, mà nằm ở tinh thần kiên cường bất khuất, ở những tâm hồn giàu đức hy sinh và tình yêu thương rộng lớn như Lê Văn Huỳnh. Họ hiểu rõ giá trị của hòa bình, hiểu rõ để có hoà bình thì cái giá phải trả bằng chính là sự hi sinh, nhưng vẫn thanh thản bước vào nơi lửa đạn để đất nước được trường tồn.
''Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm''.
Nửa thế kỷ đã trôi qua, dòng chảy Thạch Hãn giờ đây đã êm đềm xuôi chảy, cỏ non Thành cổ đã xanh một màu bình yên. Bức thư tay của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đã trở thành bảo vật quốc gia, được lưu giữ trang trọng trong bảo tàng. Mỗi lần đọc lại, mỗi người chúng ta vẫn nghe như có tiếng thì thầm của tuổi hai mươi năm ấy nhắn gửi tới mai sau: hãy trân trọng nền hòa bình đang có, bởi hòa bình ấy đã được đánh đổi bằng máu, bằng những mối tình dang dở và bằng những trái tim kiêu hãnh đã hóa thành đất đá quê hương.



