Bài viết

BỨC TRANH VỪA QUEN VỪA LẠ

Phú Thọ16/12/2025Hà Thị Diệu Thùy (Đoàn xã Mai Hạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

HÀ NỘI CUỐI THẾ KỶ XIX: BỨC TRANH VỪA QUEN VỪA LẠ

Khi nhắc đến Hà Nội xưa, ký ức của nhiều người thường chỉ dừng lại ở những năm đầu thế kỷ XX, thời kỳ các công trình kiến trúc Pháp dần hoàn thiện, văn hóa phương Tây thấm sâu vào nếp sống thị thành. Thế nhưng, nếu quay ngược thời gian về cuối thế kỷ XIX, ta sẽ thấy một Hà Nội với diện mạo rất khác, nguyên sơ, lộn xộn và đầy bất trắc. Bức tranh sinh động ấy được tái hiện rõ nét qua bài viết của tác giả Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng đăng trên Tạp chí Tri Tân số 8 ngày 25/7/1941 dưới nhan đề: “Hà Nội xưa… và nay”.

Hà Nội khi ấy vẫn mang dáng dấp của một thị trấn nửa nông thôn. Thành phố được chia làm hai khu: Khu thành nơi quan lại cư ngụ thường có tường cao hào sâu; phía ngoài là khu phố phường, từ hồ Hoàn Kiếm trải ra sông Nhị. Dù gọi là “phố” nhưng phần lớn nhà cửa còn là nhà lá, lợp tranh, dựng lộn xộn như một cái làng lớn. Phố xá phần nhiều chỉ là những “khu” dân cư rải rác, có nhà xoay mặt ra ao, có nhà quay về hồ, chẳng theo quy hoạch hay kiểu mẫu nào cả.

Các con phố được chắn bằng những cổng ô, buổi tối sẽ đóng chặt, chia cắt khu phố thành từng phần biệt lập. Ô Quan Trưởng (tức Đông Hà Môn) là một trong số ít cổng còn tồn tại đến nay. Những cổng khác như ô Hàng Đậu, ô Hàng Mắm, ô Hàng Sũ đều đã bị phá. Mỗi cổng đều có lệnh cấm đi đêm được dán công khai. Cánh cổng làm bằng gỗ to, nặng, tối đến đóng lại khiến cả khu phố rơi vào tĩnh mịch. Ai buộc phải đi đêm đều cần mang đèn, vì sẽ không có đèn đường, không có ánh sáng, chỉ có tiếng gậy gõ của phu điếm chan chát vọng lại trong đêm khuya vắng.

Quang cảnh ban ngày thì trái ngược hoàn toàn. Phố phường sôi động với các phiên chợ họp vào rằm và mùng một. Dân các vùng phụ cận đổ về, hàng hóa bày tràn cả ra lòng đường. Hàng cửi ở Hàng Đào, hàng nồi ở Hàng Đồng, hàng nón ở Hàng Nón… Từ sáng sớm đến quá trưa, Hà Nội biến thành một phiên chợ khổng lồ, kéo dài hơn hai cây số. Nhưng sự nhộn nhịp ấy cũng đi kèm hỗn loạn, chen lấn, móc túi và ùn tắc khắp nơi.

Giao thông tồi tệ. Trừ vài phố có lát đá, phần lớn chỉ là đường đất lầy lội, ngập bùn vào mùa mưa, bẩn thỉu vì không ai dọn. Không có cống rãnh, nước thải ứ đọng, uế khí bốc lên khiến dịch bệnh dễ bùng phát. Hai bên đường không thẳng hàng, mỗi nhà xây một kiểu, phía trước thường có mái che bán hàng, khiến phố vốn hẹp càng thêm ngột ngạt.

Ban đêm, Hà Nội chìm trong bóng tối và nỗi bất an. Nhà nhà đóng kín, rút thang, giấu tiền, người thức canh cho người ngủ. Những năm cuối triều Tự Đức, tin đồn về giặc Cờ Đen, Cờ Vàng và Tàu Ô khiến thành thị càng thêm rối loạn, nhiều nhà giàu phải bỏ phố về quê lánh nạn.

Ngày hôm nay, khi dạo bước quanh Hồ Gươm trong vắt, ánh đèn điện trải dài từng góc phố, ta không khỏi bàng hoàng khi nghĩ về một Hà Nội cách đây hơn một thế kỷ. Sự đổi thay không chỉ là hình thức mà là hành trình của một đô thị đi từ bất trắc đến trật tự, từ tối tăm đến ánh sáng. Một hành trình được ghi lại bằng những hồi ức chân thật và đầy cảm xúc trên những trang Tri Tân mùa hè năm 1941.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
BỨC TRANH VỪA QUEN VỪA LẠ | Câu chuyện thời hoa lửa