Bùi Chát
Đồng chí Bùi Chát sinh năm 1925, tại xã Cẩm Hà - Thị xã Hội An (nay là Thành phố Hội An)
Năm 1947, đồng chí xung phong tham gia đội tự vệ địa phương, sau đó gia nhập đội bạo động trừ gian, diệt ác của Thị xã và đã trực tiếp chiến đấu hơn 55 trận, nhiều lần táo bạo đột nhập Trung tâm Thị xã giữa ban ngày để tiêu diệt bọn tề, ác ôn, đặc biệt có trận bắt sống cả tên tỉnh trưởng địch; năm 1949, trước tình trạng quân Pháp thường xuyên sử dụng ca nô trên sông Hội An – Câu Lâu bắn phá các làng ven sông gây nhiều tổn thất cho nhân dân, đồng chí Bùi Chát đã xung phong chỉ huy tổ chiến đấu áp sát đồn hải quân Pháp ở bến chợ Hội An, dùng thủy lôi đánh chìm hai ca nô, tiêu diệt 14 tên lính Pháp. Tháng 11-1951, đồng chí được điều về Đại đội 68, Bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, đảm nhiệm chức vụ Đội trưởng Công binh, từ đây tên tuổi của đồng chí gắn liền với những trận đánh vang dội trên tuyến đèo Hải Vân, đặc biệt xuất sắc trong việc sử dụng mìn đánh tàu hỏa địch, phá hủy 3 đầu máy, lật đổ 7 đoàn tàu, 18 toa tàu chở lính và phương tiện chiến tranh, tiêu diệt 5 xe và cùng đơn vị diệt gần hai đại đội địch. Tháng 12-1953, sau mười ngày đêm kiên trì ém quân chờ thời cơ, đồng chí trực tiếp kích nổ mìn đánh đoàn tàu chở lính và vũ khí từ Đà Nẵng ra Huế, hất cả đoàn tàu xuống chân đèo, tiêu diệt gần 100 tên địch và thu 300 khẩu súng các loại; cuối tháng 5-1954, cũng tại khu vực này, đồng chí tiếp tục lập chiến công xuất sắc, tiêu diệt thêm 100 sĩ quan Pháp. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, đồng chí được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, 10 lần được Tỉnh và Liên khu khen thưởng danh hiệu Chiến sĩ thi đua Liên khu V và ngày 31-8-1955 được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trở thành người anh hùng quân đội đầu tiên của quê hương đất Quảng.
Sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, đồng chí tập kết ra Bắc rồi tiếp tục trở lại miền Nam chiến đấu chống Mỹ, lập thêm nhiều chiến công trên chiến trường Bình – Trị – Thiên, cho đến khi anh dũng hy sinh ngày 30-7-1966 tại Cù Đinh (Quảng Trị), để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng đội và nhân dân; những chiến công và sự hy sinh cao cả của đồng chí cùng tình nghĩa thủy chung của người vợ là bà Nguyễn Thị Tới vẫn còn vang vọng mãi, trở thành bài học sinh động giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng hòa bình, tiếp nối truyền thống anh hùng, ra sức xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp.



