Anh hùng Lực lượng vũ trang

Bùi Đình Cư – Người pháo thủ anh dũng trên chiến trường Điện Biên Phủ

Đào Khánh Linh

Lào Cai17/08/2026xã An Phú (Xã An Phú)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bùi Đình Cư sinh năm 1927, quê tại xã Việt Tiến, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Năm 1949, ông nhập ngũ và gắn bó với Binh chủng Pháo binh trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ khi bước vào quân đội đến năm 1954, ông trực tiếp tham gia 9 chiến dịch lớn tại Bắc Bộ, ở mỗi chiến trường đều thể hiện tinh thần gan dạ, linh hoạt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trong Chiến dịch Hoàng Hoa Thám năm 1950, đơn vị của Bùi Đình Cư phối hợp với lực lượng bạn tiến công bốt Vên. Ông trực tiếp sử dụng pháo bắn 4 phát, gây tổn thất cho một trung đội địch, tạo điều kiện thuận lợi để bộ binh xung kích tiến lên tiêu diệt cứ điểm.

Đến Chiến dịch Quang Trung năm 1951, trong trận đánh đồn Yên Mô Thượng ở Ninh Bình, thời tiết mưa lớn, trời tối, việc xác định mục tiêu gặp nhiều khó khăn. Bùi Đình Cư chủ động bò vào gần vị trí địch, dùng đèn pin soi từng lỗ châu mai để xác định mục tiêu cho pháo binh. Mặc cho quân địch bắn dữ dội, ông vẫn giữ bình tĩnh, khéo léo hoàn thành nhiệm vụ, giúp đơn vị đánh tan cứ điểm.

Năm 1952, trong Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, khi đơn vị chuẩn bị tiến công Tu Vũ thì trận địa bị địch phát hiện và phải nhanh chóng di chuyển. Để bảo đảm khẩu đội kịp thời cơ động và tiếp tục chi viện cho bộ binh, Bùi Đình Cư không ngần ngại vác một nòng súng cối nặng 101kg đi dưới hỏa lực đối phương, đưa đến trận địa mới cách khoảng 200m. Hành động đó trở thành nguồn động viên mạnh mẽ để toàn đơn vị nhanh chóng chấp hành mệnh lệnh.

Đối đầu với tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ

Bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân Pháp đã có hơn 100 ngày chuẩn bị để biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố. Tướng Na-va đưa xuống thung lũng Mường Thanh 12 tiểu đoàn và 7 đại đội, với hơn 12.000 quân, tổ chức thành ba phân khu gồm 49 cứ điểm liên kết chặt chẽ.

Sân bay Mường Thanh được khẩn trương khôi phục để bảo đảm tiếp tế và tăng cường lực lượng. Tại Hồng Cúm, quân Pháp xây dựng thêm một sân bay dự bị. Không quân địch có nhiều loại máy bay chiến đấu và vận tải, trong khi lực lượng xe tăng cũng được bố trí tại tập đoàn cứ điểm.

Về pháo binh, quân Pháp có 48 khẩu, gồm hai tiểu đoàn pháo 105mm, một đại đội pháo 155mm và 22 đại đội súng cối 120mm. Hỏa lực này được bố trí tập trung tại Mường Thanh và Hồng Cúm, có khả năng hỗ trợ lẫn nhau cũng như yểm trợ cho các cứ điểm xung quanh.

Trong khi đó, lực lượng quân ta có ưu thế về quân số và tinh thần chiến đấu. Pháo binh Việt Nam tuy ít hơn đối phương về số lượng và lượng đạn dự trữ, nhưng được bố trí phân tán, kín đáo trên các sườn núi và có khả năng tập trung hỏa lực vào những mục tiêu, thời điểm then chốt.

Để tăng cường khả năng pháo binh cho Điện Biên Phủ, quân Pháp đưa Trung tá Sác-lơ Pi-rốt lên chỉ huy lực lượng pháo binh. Ông ta từng chỉ huy một trung đoàn pháo binh thuộc địa tại châu Phi và có kinh nghiệm chiến đấu trong Thế chiến thứ hai.

Ngày 7-12-1953, Pi-rốt tới Điện Biên Phủ. Ngay sau đó, các đơn vị pháo binh Pháp lần lượt được đưa xuống sân bay Mường Thanh, trong đó có các đơn vị trang bị pháo 155mm và súng cối 120mm. Đầu tháng 2-1954, quân Pháp đã xây dựng một hệ thống hỏa lực lớn với lượng đạn được chuẩn bị đáng kể.

Những loạt đạn đầu tiên vào Him Lam

Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định trước hết tiến công ba trung tâm đề kháng Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo, những vị trí án ngữ các tuyến đường từ Sơn La và Lai Châu vào Điện Biên Phủ.

Đại đoàn 351 Pháo binh được giao nhiệm vụ sử dụng toàn bộ hỏa lực pháo binh mặt đất để trực tiếp hỗ trợ bộ binh tiêu diệt các cứ điểm, đồng thời chế áp pháo binh đối phương, đánh vào sở chỉ huy, kho tàng và sân bay.

Him Lam là một cứ điểm quan trọng nằm ở phía Đông Bắc tập đoàn cứ điểm, trên đường 41. Khu vực này gồm ba quả đồi, cách nhau khoảng 200-300m, được xây dựng với hệ thống công sự, lô cốt và hỏa điểm dày đặc.

Ngày 13-3-1954, quân Pháp tại Điện Biên Phủ nhận thấy hoạt động của quân ta ngày càng rõ rệt. Máy bay địch liên tục xuất hiện, ném bom xuống các khu vực nghi có lực lượng Việt Minh.

Khoảng 8 giờ, hai máy bay Đa-cô-ta vừa hạ cánh xuống sân bay Mường Thanh đã bị pháo của Đại đội 756 và 757 bắn trúng, bốc cháy.

Đến 11 giờ, Đại đội cối 120mm của Bùi Đình Cư tiến hành bắn thử. Một loạt đạn rơi xuống sân bay, phá hủy thêm một máy bay của đối phương.

Ngay sau đó, các đài quan sát pháo binh phát hiện hai xe tăng và một đại đội bộ binh Pháp từ Mường Thanh tiến về phía Him Lam, nhằm đánh vào khu vực xuất phát xung phong của quân ta.

Trước tình hình đó, Đại đoàn 312 và Đại đoàn 351 đề nghị Bộ Chỉ huy Chiến dịch sử dụng một phần hỏa lực để chặn lực lượng địch, bảo vệ các tuyến hào chuẩn bị tiến công. Dù chủ trương ban đầu là giữ bí mật hỏa lực pháo binh đến thời điểm quyết định, Bộ Chỉ huy Chiến dịch vẫn chấp thuận phương án và giao Đại đội của Bùi Đình Cư bắn 20 phát vào Him Lam.

Hỏa lực pháo binh ta đồng loạt dội xuống Him Lam, đồng thời đánh vào khu vực sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm. Hơn 40 khẩu pháo các loại từ 75 đến 120mm tham gia đợt tập kích mở màn.

Cứ điểm Him Lam rung chuyển dưới sức công phá của pháo binh. Trong khi đó, các đơn vị pháo và súng cối trực tiếp hỗ trợ bộ binh đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa.

Trước giờ chiến đấu, Bùi Đình Cư từng trực tiếp vác nòng súng cối nặng hơn 100kg trên quãng đường 3km để đưa vũ khí đến vị trí triển khai. Khi đến trận địa, các khẩu cối được lắp đặt gần cứ điểm Him Lam, sẵn sàng khai hỏa.

Năm khẩu cối 120mm của Đại đội 114 do Bùi Đình Cư chỉ huy tiếp tục bắn vào khu vực giữa các cứ điểm. Những hố đạn tạo thành trên mặt đất được bộ binh tận dụng để tiến lên, mở đường vào vị trí phòng thủ của quân Pháp.

Hỏa lực pháo binh hỗ trợ trận đánh quyết định

Đến 18 giờ 30 phút, các đơn vị xung kích đồng loạt tiến công. Lúc này, pháo binh chuyển trọng tâm sang chế áp pháo địch, tạo điều kiện cho bộ binh tiếp cận các cứ điểm.

Tuy nhiên, một số trận địa pháo của quân Pháp vẫn tìm cách chống trả, gây khó khăn cho hướng tiến công chủ yếu. Đại đội 806 được lệnh sử dụng 40 viên đạn trong thời gian ngắn để chế áp các vị trí hỏa lực này.

Khoảng 22 giờ, bộ binh phát hiện thêm các hỏa điểm bí mật của địch tại khu vực cứ điểm 1 và 2. Những vị trí này có khả năng bắn thẳng vào sườn và phía trước đội hình xung kích.

Ngay lập tức, súng cối của Trung đội Bùi Đình Cư phối hợp với súng ĐKZ và Đại đội sơn pháo 75mm tập trung hỏa lực vào các mục tiêu. Từng hỏa điểm của quân Pháp lần lượt bị vô hiệu hóa, tạo khoảng trống để bộ binh tiến vào bên trong.

Cuộc chiến trong lòng cứ điểm Him Lam diễn ra quyết liệt trong khoảng một giờ. Đến 23 giờ 30 phút, tin chiến thắng được truyền tới các trận địa pháo: cứ điểm Him Lam đã bị tiêu diệt.

Niềm vui chiến thắng chỉ kéo dài trong chốc lát. Các pháo thủ lập tức trở về vị trí bởi nhiệm vụ chế áp hỏa lực địch trên những hướng khác vẫn tiếp tục.

Chi viện cho trận đánh Độc Lập

Theo kế hoạch, ngay đêm hôm sau, lực lượng pháo binh được giao nhiệm vụ hỗ trợ Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 tiến công cứ điểm Độc Lập. Đại đội cối 114 của Bùi Đình Cư phải nhanh chóng cơ động về phía Tây Bắc.

Do lệnh điều động đến muộn, bộ đội phải di chuyển khi trời đã sáng, thậm chí không kịp ăn sáng. Khi gần đến thời điểm tiến công, lực lượng bộ binh ở hướng chủ yếu đề nghị nổ súng. Tuy nhiên, chỉ huy trận đánh quyết định chờ pháo binh và súng cối đến đầy đủ nhằm bảo đảm phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.

Trong thời gian chờ đợi, Bùi Đình Cư vẫn cho pháo tranh thủ bắn vào cứ điểm Độc Lập, phá hủy một phần công sự và gây sức ép lên tinh thần quân Pháp.

Cách sử dụng hỏa lực này cũng tạo ra sự khác biệt so với trận Him Lam trước đó, khiến quân địch khó đoán thời điểm tiến công chính của quân ta.

Trong lúc chờ pháo và cối, bộ đội xung kích chủ động hỗ trợ làm trước một số công sự cho các trận địa pháo. Vì vậy, khi lực lượng pháo binh đến nơi, các khẩu pháo nhanh chóng được triển khai và có thể khai hỏa ngay.

Rạng sáng 15-3, lúc 3 giờ 30 phút, lệnh tiến công cứ điểm Độc Lập được phát ra. Sau một khoảng thời gian im tiếng, pháo binh và súng cối 120mm đồng loạt khai hỏa.

Đại đội cối của Bùi Đình Cư bất chấp mệt mỏi, đói rét, liên tục bắn chính xác vào những mục tiêu được giao. Bộ binh tiến đến đâu, pháo binh điều chỉnh tầm bắn đến đó, tạo thành sự phối hợp chặt chẽ giữa hỏa lực và lực lượng xung kích.

Đến 3 giờ 55 phút, pháo tạm ngừng để bộ binh chiến đấu bên trong cứ điểm. Đến 6 giờ 30 phút, sau khi chống trả trong tuyệt vọng, quân Pháp tại Độc Lập buộc phải hạ vũ khí. Gần 500 lính địch đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Sau khi cứ điểm được đánh chiếm, Bùi Đình Cư được giao chỉ huy trung đội tiến vào thu hồi ba khẩu cối 120mm còn nguyên vẹn của quân Pháp. Mặc dù bị pháo địch bắn chặn trên đường, ông cùng đồng đội vẫn đưa toàn bộ số vũ khí này ra ngoài an toàn.

Người anh hùng của Binh chủng Pháo binh

Những chiến công của Bùi Đình Cư trong nhiều chiến dịch lớn cho thấy bản lĩnh của một người lính pháo binh luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó khăn. Từ việc trực tiếp điều chỉnh hỏa lực giữa trận địa địch, vận chuyển những khẩu pháo nặng hàng trăm kilôgam cho đến tổ chức bắn chi viện trong những thời điểm quyết định, ông luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, bình tĩnh và quyết đoán.

Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Bùi Đình Cư được trao một Huân chương Chiến công hạng Nhì, một Huân chương Chiến công hạng Ba, cùng 42 lần được trung đoàn và đại đoàn khen thưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tặng ông một áo lụa.

Ngày 31-8-1955, Bùi Đình Cư được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao Huân chương Quân công hạng Ba và phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Tên tuổi Bùi Đình Cư gắn liền với những trận đánh quan trọng của pháo binh Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những đóng góp của ông, đặc biệt tại Him Lam và Độc Lập, góp phần thể hiện vai trò quan trọng của pháo binh trong việc chế áp hỏa lực, phá vỡ công sự và tạo điều kiện cho bộ binh tiến công, từng bước làm tan rã tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn