BÙI THỊ SON
Bùi Thị Son sinh năm 1914 tại làng Thạnh Trị, tổng Hòa Đồng Thượng, tỉnh Gò Công (nay là xã Thạnh Trị, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang).
Bà lập gia đình năm 1932. Chồng bà là thợ đóng cày và tham gia hoạt động cách mạng. Bà rất đảm đang việc nhà và phụ chồng cất giấu vũ khí, canh gác cho cán bộ hội họp, phục vụ cơm nước cho thương, bệnh binh.
Năm 1960, bà tham gia Hội Mẹ chiến sĩ. Đồng thời, bà là cơ sở mật của cách mạng trong vùng địch tạm chiếm. Ghi nhận và tôn vinh thành tích của bà, Nhà nước đã tặng thưởng bà Huy chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì.
Bà có chồng tham gia hoạt động cách mạng; 6 con là liệt sĩ:
Chồng bà, ông Trương Công Thường, sinh năm 1911, tham gia cách mạng tháng 2-1938. Đơn vị công tác: Nông hội tỉnh Gò Công. Tháng 9-1945 đến tháng 10-1949, làm trinh sát Huyện đội huyện Tây, bị địch bắt giam 2 năm. Được trả tự do, ông tiếp tục hoạt động cách mạng. Đến năm 1955 bị địch bắt đày đi Biên Hòa và Côn Đảo. Trong nhà tù đế quốc, ông được tập thể đảng viên bầu làm Bí thư chi bộ nhà lao. Đến năm 1961, được trả tự do, ông liên hệ với tổ chức để nhận nhiệm vụ, tiếp tục hoạt động. Sau ngày 30-4-1975, ông là cán bộ dân vận tỉnh Gò Công đến tháng 11-1989 nghỉ hưu. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
Các con liệt sĩ:
Liệt sĩ Trương Công Hiếu, sinh năm 1933, tham gia cách mạng tháng 1-1945. Đơn vị công tác: Tiểu đoàn 305, Quân khu 8. Hy sinh trong trận chống càn ngày 10-2-1949 tại xã Tân Thành, huyện Đông, tỉnh Gò Công. Hài cốt bị thất lạc. Được công nhận liệt sĩ ngày 10-3-1978, theo Quyết định số 223/TTg. Bằng Tổ quốc ghi công số: 1BC-209b. Hồ sơ số: TG/LS-11890.
Liệt sĩ Trương Tấn Hồng, sinh năm 1937, tham gia cách mạng tháng 6-1959. Đơn vị công tác: Huyện đội Hòa Đồng (nay là huyện Gò Công Tây). Được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Hy sinh trong trận chống càn năm 1969 tại xã Vĩnh Hựu, huyện Tây, tỉnh Gò Công. An táng tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Tân Niên Tây, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Được công nhận liệt sĩ theo Quyết định số 382/TTg ngày 2-3-1979. Bằng Tổ quốc ghi công số: 8H-723b. Hồ sơ số: TG/LS-25469.
Liệt sĩ Trương Tấn Nghĩa, sinh năm 1940, tham gia cách mạng tháng 1-1962. Đơn vị công tác: Tiểu đoàn 305. Được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Hy sinh trong chiến đấu tháng 12-1969 tại xã Vĩnh Hựu. An táng tại ấp Phú Trung, xã Long Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Được công nhận liệt sĩ ngày 17-7-1978. Hồ sơ số: TG/LS-20968. Bằng Tổ quốc ghi công số: 6Y-472b.
Liệt sĩ Trương Tấn Quân, sinh năm 1941, tham gia cách mạng tháng 10-1961. Đơn vị công tác: Tiểu đoàn 261, cấp bậc: Thượng sĩ. Được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Hy sinh trong trận chống càn tháng 3-1963 tại tỉnh Kiến Phong. An táng tại khu vực chùa Phật Đá, xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Được công nhận liệt sĩ, theo Quyết định số 370/TTg ngày 23-5-1979. Bằng Tổ quốc ghi công số: 8H-464b.Hồ sơ số: TG/LS-25470.
Liệt sĩ Trương Thị Thanh, sinh năm 1942, tham gia cách mạng tháng 5-1963. Đơn vị công tác: Quân bưu Y2. Được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhì. Hy sinh trong chiến đấu chống càn tháng 7-1969 tại Kinh 10 - Nguyễn Văn Tiếp. An táng tại ấp Phú Trung, xã Long Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Được công nhận liệt sĩ ngày 25-5-1979, theo Quyết định số: 374/TTg. Bằng Tổ quốc ghi công số: 8H-555b. Hồ sơ số: TG/LS-25173.
Liệt sĩ Trương Tấn Sĩ, sinh năm 1950, tham gia cách mạng năm 1964. Đơn vị công tác: Huyện đội Hòa Đồng. Hy sinh trong trận chống càn tháng 10-1968. An táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Được công nhận liệt sĩ ngày 21-12-1983, theo Quyết định số: 459-CTMT. Bằng Tổ quốc ghi công số: 402bm.
Ngày 17-12-1994, bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Bà mất năm 1996, an táng tại ấp Phú Trung, xã Long Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
(Nguồn: Tiền Giang nhân vật chí - Thư viện Đồng Tháp)



