Bài viết

Bùi Văn Đáp – Một trăm thương binh mỗi đêm trong bệnh viện dưới lòng đất

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, y tá trưởng Bùi Văn Đáp phụ trách khu Trung thương của Đội điều trị ĐT3, một bệnh viện được bố trí trong đường hầm. Với khoảng 50 cán bộ quân y, đơn vị của ông có đêm phải tiếp nhận, cứu chữa và chuyển tuyến cho khoảng 100 thương binh.

22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trên mặt đất Điện Biên Phủ năm 1954 là tiếng pháo, tiếng máy bay và những cuộc xung phong giành giật từng đoạn chiến hào. Nhưng dưới lòng đất cũng có một mặt trận khác, nơi những người lính không cầm bộc phá đánh lô cốt mà cầm băng gạc, kéo phẫu thuật và những chậu nước nóng để giành lại sự sống cho đồng đội.

Một trong những người có mặt tại mặt trận đặc biệt ấy là y tá trưởng Bùi Văn Đáp.

Ông sinh khoảng năm 1926, quê ở tỉnh Phú Thọ. Năm 1947, chàng trai trẻ rời quê nhập ngũ và được điều lên đóng quân tại Lào Cai. Hai năm sau, ông được đơn vị cử đi học nghề y tá.

Việc học ấy đưa Bùi Văn Đáp đến một nhiệm vụ mà ông không thể quên trong suốt phần đời còn lại: làm quân y tại Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đầu năm 1954, ông cùng đồng đội hành quân lên mặt trận, được biên chế về Đội điều trị ĐT3. Đơn vị phải xây dựng một cơ sở cứu chữa đủ gần chiến trường để tiếp nhận người bị thương nhanh chóng, nhưng cũng phải tránh sự phát hiện và đánh phá của máy bay, pháo binh Pháp.

Một bệnh viện đặc biệt được hình thành trong lòng đất.

Đội điều trị chia thành ba khu vực. Khu Khinh thương được bố trí trên mặt đất, dành cho những người bị thương nhẹ. Khu Trung thương và Trọng thương được đặt sâu trong đường hầm, gần nhà mổ. Bùi Văn Đáp làm y tá trưởng, phụ trách khu Trung thương.

Đường hầm chỉ rộng khoảng 1,2 mét. Hai bên vách, cứ cách chừng ba mét lại có một hốc nhỏ được khoét sâu vào đất. Mỗi hốc là chỗ nằm của một thương binh.

Không có những căn phòng rộng rãi, giường bệnh hay hệ thống điện chiếu sáng ổn định. Trong lòng hầm chật hẹp, các chiến sĩ quân y phải khám, cắt lọc và rửa vết thương, theo dõi tình trạng người bệnh rồi quyết định ai cần được đưa đến nhà mổ hoặc chuyển về tuyến sau.

Công việc của Bùi Văn Đáp diễn ra theo một nhịp độ gần như không ngừng nghỉ. Khoảng hai giờ chiều, ông lập danh sách những thương binh đủ điều kiện chuyển về tuyến sau. Đến năm giờ chiều, đơn vị vừa bàn giao người cũ, vừa bắt đầu tiếp nhận những cáng thương binh mới từ trận địa đưa về.

Ban ngày đã bận rộn, ban đêm còn khẩn trương hơn.

Theo hồi ức của ông, trung bình mỗi đêm có khoảng 100 thương binh được chuyển vào khu điều trị. Trong khi đó, toàn bộ lực lượng quân y chỉ có khoảng 50 người.

Mỗi khi một đợt tiến công diễn ra, số cáng đưa về lại tăng lên. Những người lính quân y phải nhanh chóng kiểm tra từng vết thương, cầm máu, rửa sạch bùn đất, băng bó và phân loại. Người bị thương nặng được ưu tiên đưa đến nhà mổ; người đã ổn định phải sớm chuyển về phía sau để dành chỗ cho những đồng đội đang trên đường tới.

Cuối tháng Tư và đầu tháng Năm năm 1954, mưa đổ xuống lòng chảo Điện Biên. Đường hào trở thành những rãnh bùn. Thương binh từ mặt trận được đưa về thường lấm lem đất đỏ, quần áo ướt sũng và vết thương dính đầy bùn.

Trước khi y tá có thể xử lý vết thương, các hộ lý và dân công phải rửa sạch người bệnh bằng nước ấm. Nhưng việc đun nước cũng không đơn giản. Khói bếp ban ngày có thể làm lộ vị trí bệnh viện, nên hàng trăm dân công phải tranh thủ ban đêm đun nước, đổ đầy bốn thùng phi lớn để quân y sử dụng.

Trong bệnh viện dưới lòng đất, các dân công trở thành một phần không thể thiếu. Họ khiêng cáng, nấu nước, giặt băng, hỗ trợ vệ sinh thương binh và chuyển người về tuyến sau. Nhờ sự phối hợp ấy, một lực lượng quân y rất mỏng mới có thể chăm sóc số lượng người bị thương lớn gấp nhiều lần.

Những người như Bùi Văn Đáp gần như trực chiến suốt 24 giờ mỗi ngày. Họ chỉ có thể ngồi dựa vào vách hầm chợp mắt trong vài phút, rồi tỉnh dậy khi một cáng thương binh mới được đưa tới.

Có một kỷ niệm ám ảnh ông nhiều năm sau chiến tranh.

Một thương binh bị vết thương nặng ở lồng ngực được phẫu thuật tại khu Trọng thương. Do khu vực này đã quá chật, người bệnh được chuyển sang khu Trung thương do ông Đáp phụ trách. Vết thương khiến người chiến sĩ rất khó thở, trong khi thuốc men và phương tiện cấp cứu đã gần cạn.

Để người bệnh dễ thở hơn, năm cán bộ quân y phải thay nhau ngồi suốt đêm, dùng chính cơ thể mình làm điểm tựa, giữ cho người chiến sĩ ở tư thế thẳng.

Họ đã làm tất cả những gì có thể trong điều kiện lúc ấy. Nhưng đến cuối cùng, người đồng đội vẫn không qua khỏi.

Đối với người lính ngoài trận địa, đau đớn nhất là nhìn đồng đội ngã xuống. Đối với người quân y, còn có một nỗi đau khác: nhìn thấy sự sống đang rời đi dù mình đã cố gắng đến kiệt sức nhưng không có đủ thuốc và thiết bị để giữ lại.

Bùi Văn Đáp và đồng đội không có thời gian để chìm lâu trong đau buồn. Bên ngoài đường hầm, trận đánh vẫn tiếp diễn. Những cáng thương binh khác đang được đưa về. Người còn sống vẫn cần được chăm sóc.

Họ lau nước mắt rồi lại tiếp tục công việc.

Suốt 56 ngày đêm của chiến dịch, những người lính quân y làm việc trong tiếng bom rung chuyển đất đá. Họ vừa cứu chữa thương binh, vừa sẵn sàng cầm súng bảo vệ bệnh viện khi cần thiết. Mỗi vết thương được băng bó, mỗi ca phẫu thuật thành công và mỗi người được chuyển an toàn về tuyến sau đều góp phần bảo toàn lực lượng chiến đấu.

Ngày 7/5/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Với Bùi Văn Đáp và đồng đội, niềm vui chiến thắng hòa lẫn với sự kiệt sức sau hàng chục ngày gần như không có một giấc ngủ trọn vẹn.

Nhưng ông không rời Điện Biên.

Nghĩ đến những đồng đội đã nằm lại nơi đây, Bùi Văn Đáp quyết định ở lại xây dựng cuộc sống trên chính vùng đất từng là chiến trường. Ông tiếp tục học y sĩ tại Thái Nguyên rồi trở lại công tác ở Bệnh viện Lai Châu, nay là Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên.

Đến năm 1980, ông nghỉ hưu nhưng vẫn tham gia các hoạt động xã hội tại phường Mường Thanh. Mỗi dịp tháng Năm, ông lại cùng gia đình đến Nghĩa trang Liệt sĩ A1 thắp hương cho đồng đội.

Tư liệu của Đài Phát thanh và Truyền hình Điện Biên cho thấy vào tháng 1/2025, ông vẫn được lãnh đạo tỉnh đến thăm, chúc Tết với tư cách một chiến sĩ Điện Biên.

Câu chuyện của Bùi Văn Đáp giúp chúng ta nhìn thấy một phần khác của chiến thắng. Phía sau những đơn vị xung kích là những y tá, hộ lý và dân công đã thức trắng trong lòng đất, lấy vai mình làm chỗ dựa cho người bị thương và dùng từng chậu nước nóng để chống lại bùn đất, nhiễm trùng và cái chết.

Họ không trực tiếp cắm lá cờ chiến thắng trên hầm chỉ huy đối phương. Nhưng nhờ những bàn tay ấy, nhiều người lính đã được cứu sống để tiếp tục trở về với đơn vị, gia đình và quê hương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn