Bùi Viện – Nhà tư tưởng canh tân táo bạo
Đào Thị Tâm Đoan
Bùi Viện (1839-1878) sinh ra ở làng Trình Phố, tổng An Bồi, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định, nay là thôn Trình Nhì, xã An Ninh, huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình.
Sử sách ghi chép về Bùi Viện không nhiều. Trong cuốn “Bùi Viện và chính phủ Mỹ” của nhà sử học Phan Trần Chúc, tác phẩm duy nhất viết về các cuộc công du của Bùi Viện, ông được đánh giá là nhà ngoại giao Việt Nam đầu tiên đặt chân sang Mỹ tìm đồng minh giao hiếu. Ông cũng được coi là người có công trong việc sáng lập ra cửa biển Hải Phòng, tiền thân là bến Ninh Hải: “Bùi Viện đã hăng hái mộ binh lính, dân phu, ra sức đào sông, tháo nước ra biển, vượt đất lên cao làm vườn tược hay nền móng nhà. Chẳng bao lâu vùng bùn lầy hẻo lánh ít ai biết đến này đã trở nên đông đúc với đường đi lối lại trên bộ, dưới nước thuận tiện, có thương điếm đánh thuế tàu thuyền ra vào, có cơ quan phòng thủ phụ trách việc giữ an ninh trong vùng, gọi là Hải biên phòng thủ (Hải phòng)”[1]
Sau khi 6 tỉnh Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, một số nhà nho, trong đó có Bùi Viện, có tư tưởng muốn thắng Pháp phải canh tân đất nước. Tuy nhiên cách làm của ông khác biệt và táo bạo so với những nhà nho đương thời. Đó là chủ trương vươn ra biển, làm chủ lãnh hải, cải cách và trang bị cho lực lượng hải quân, tăng cường phòng vệ vùng biển. Ông cho rằng khi hải tặc được dẹp yên, không còn dám hoành hành sẽ tạo điều kiện cho việc buôn bán bằng đường biển thuận lợi. Thấu hiểu được tư tưởng đó, Vua Tự Đức đã giao cho ông tổ chức nha Tuần tải và cử ông làm Chánh quản đốc phụ trách trực tiếp.

(Trích văn bản triều Tự Đức, phông Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I về việc bổ Bùi Viện làm Quản đốc nha Tuần tải)
Bản tấu của Bộ Binh ngày 9 tháng 9 năm Tự Đức 30 (1877): “Ngày tháng 7 năm nay, quan bộ Hộ và bộ thần dâng phiến xin đặt một Chánh quản đốc, một Phó quản đốc tại nha Tuần tải. Kính chuẩn cho Bùi Viện sung làm Quản đốc nha ấy, còn Phó quản đốc do ban võ lựa chọn. Các viên quan cơ hoặc Cai đội, ai là người thông thạo sông nước và đánh trận đường bộ xin sung bổ. Bộ thần tuân sao lục gửi cho thi hành. Sau đó nhận được tờ phúc tấu của ban võ trình rằng đã chọn được viên Cai đội đội 7 vệ 4 doanh Trung Thuỷ sư là Đặng Văn Ứng và Chánh đội trưởng suất đội đội 1 vệ Nhị bảo Tả doanh Vũ Lâm là Nguyễn Dũng Lực đều là những người có thân thể tráng kiện, đã từng qua đánh dẹp, có thể sung bổ được. Bộ thần vâng xét Nguyễn Dũng Lực là lính bộ có am hiểu về đường thuỷ không và Đặng Văn Ứng là quân thuỷ có am hiểu đánh trận đường bộ không trong tờ tư không thấy trình bày rõ. Bộ thần đã vâng tư hỏi, nay nhận được tờ phúc tấu trình bày: Nguyễn Dũng Lực am hiểu đánh trận đường bộ, đường thuỷ nghĩ cũng am hiểu. ĐặngVăn Ứng từng chuyên chở vật hạng, đánh trận đường bộ khá am hiểu. Quan ban võ xét là đều có thể sung bổ được. Trong đó Đặng Văn Ứng là người xuất thân thuỷ quân, biết đánh trận đường bộ, mà phẩm trật cũng cao hơn. Vậy Đặng Văn Ứng xin để nguyên hàm Cai đội cấm binh sung làm Phó quản đốc nha ấy. Còn Nguyễn Dũng Lực phẩm trật thấp hơn xin nên vẫn giữ chức cũ. Châu điểm.”[2]
Từ đây, Chánh Quản đốc nha Tuần tải Bùi Viện tổ chức và chỉ huy một đội Thủy quân hùng mạnh có nhiệm vụ vừa tuần tiễu miền duyên hải, vận tải lương tiền cho nhà nước vừa hộ vệ, dẫn dắt các thuyền buôn: “ Hai Bộ Binh, Hộ tâu: Ngày 11 tháng này, nhận được tờ trình của Quản đốc nha Tuần tải Bùi Viện rằng viên ấy hiện đang xem xét lính thuyền để chuẩn bị xin do tỉnh thần tập hợp kiểm tra đưa đến tấn Liêu diễn tập. Nhưng do thám được bọn hải phỉ đang tụ tập cướp bóc tại hai núi Cẩu Đầu, Thanh Lân đã phái tầu chiến đến đó để tiễu trừ, nhưng chưa dẹp được, thuyền buôn của bản quốc xin viên ấy hộ vệ. Nay xin điều 6 chiếc thuyền tuần tiễu ra biển tiễu phỉ…Châu điểm. Ngày 14 tháng 10 năm Tự Đức 30 (1877)”[3]
Đội Thủy quân của nha Tuần tải không chỉ được trang bị đầy đủ vũ khí, huấn luyện chu đáo mà còn có kỉ luật nghiêm, có qui định về cờ hiệu riêng để phân biệt. Điều đó thể hiện sự chuyên nghiệp và tư tưởng rất mới mẻ, tiến bộ của Bùi Viện trong bối cảnh đương thời: “ Thần Trần Tiễn Thành, Lê Bá Thận tâu: ngày 21 tháng chạp vừa qua, tiếp nhận cung lục của hai Bộ Hộ, Binh trong đó có một khoản tiếp tư văn của Quản đốc nha Tuần tải Bùi Viện trình bày: cờ hiệu đoàn thuyền tuần tải của nha đó xin vâng theo phê chuẩn ghi các chữ “Quản đốc ty Tuần tải”, cờ hiệu thuyền vận tải lương thực xin ghi các chữ “Tuần tải nha quan lương”...Ngày 10 tháng 1 năm Tự Đức 31 (1878)”[4]
Tư tưởng tiến bộ của Bùi Viện còn thể hiện ở việc đóng đồn chính ở cửa Ba Lạt là cửa biển giáp ranh giữa Thái Bình –Nam Định. Tuy nhiên ông vẫn thiết lập thêm các đồn quan phòng ở các tấn thuộc các tỉnh: Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Nam, Đà Nẵng…với mục đích mở mang đường thủy, mở hải cảng bến sông nhằm thúc đẩy kinh tế : “Chiều qua nhận được tờ trình của thần nha tuần tải Bùi Viện trình bày: Ngày tháng 3 năm nay nhận được tờ cung lục của bộ thần vâng chuẩn cho Thanh Hoá giao 5 vạn phương gạo cho tỉnh Bình Định, tỉnh Nam Định giao 5 vạn phương gạo cho tỉnh Quảng Nam để hai tỉnh Thanh Nam trích giao cho nha ấy và các thuyền của nha ấy chở giao cho 2 tỉnh Quảng Nam, Bình Định giữ. Nay nha ấy đã thuê 6 chiếc thuyền chở gạo đã đến đậu ở Hải Phòng của tỉnh Hải Dương. Đã tư cho Hà Nội chở cùng uỷ cho thuộc viên lãnh nhận giao cho thuyền đó chở nạp cho Quảng Nam, Bình Định, trình xin xem xét. Bộ thần xét thấy số gạo chở giao cho tỉnh Bình Định, bộ thần đã trình lên, tỉnh đó đã đến Thanh Hoá nhận chở. Duy gần đây căn cứ vào tờ tư của hai tỉnh Nam, Ngãi báo giá gạo còn cao, lại ít mưa, việc nhà nông ít thuận nên phải tiến hành điều phối. Nha Tuần tải đã thuê 2 chiếc thuyền Hoả bản chở được bao nhiêu gạo xin do tấn Đà Nẵng giao cho Quảng Nam nhận dự trữ thêm, còn 4 chiếc thuyền Giáp bản nên do tấn Thuận An về nộp. Nộp ở tấn nào được bao nhiêu phương do bộ thần chiếu lệ thi hành. Châu điểm. Ngày 20 tháng 5 năm Tự Đức 31 ( 1878 )”[5]
Chủ trương lập Chiêu thương cục, mục đích của Bùi Viện là tổ chức việc buôn bán giữa Việt Nam và Trung Quốc, trao đổi các sản phẩm nông thổ sản, gốm sứ, tơ, lụa. Từ đó trở thành nơi giao lưu hàng hóa có tính quốc tế, vừa là tiền đề cho việc du nhập văn minh trực tiếp vào đất đế đô cũng là tăng thêm nguồn thu cho nhà nước từ việc thu thuế thuyền buôn nước ngoài vào cảng: “Bộ Hộ tâu: Ngày 23 tháng trước, nhận được tờ tư của tỉnh thần Hải Dương Lê Điều nói rằng: Nha thương chính trình có tàu nước Anh hiệu là Công Kế, tàu của Chiêu thương cục nước Thanh là Khang Tế, cùng vào cảng. Đã hội đồng kiểm tra và thu thuế hàng hóa. Việc xong đã sức đem 2 bản sách kê hàng hóa của nha ấy trình kèm theo. Xin dâng cùng 2 tờ tư này tiến trình xem xét. Ngày 2 tháng 9 năm Tự Đức 33 (1880)”[6]
Đáng tiếc, tư tưởng canh tân táo bạo của Bùi Viện sớm lụi tàn. Vào đêm mùng 1 tháng 11 năm Tự Đức 31 (1878), ông chết bệnh khi tròn 39 tuổi “Bộ Hộ tâu: Đêm ngày mồng 1 tháng này Quản đốc nha Tuần tải Bùi Viện ốm chết. Bộ thần phái ngay Viên ngoại lang Nguyễn Đăng Vinh đến nơi viên ấy thuê ở và tư cho phủ Thừa Thiên phái thuộc viên họp bàn kiểm tra. Trừ các loại trúc xanh, thuỷ đằng sẽ tư cho phủ đó điều động dân phu sở tại canh giữ ra còn lại các loại hàng riêng chuyển về ty Tào chính giao cho lính canh giữ. Toàn bộ các loại nào đã thu được bao nhiêu kính xin kê khai như sau. Kê khai. Ngày 8 tháng 11 năm Tự Đức 31 (1878)”[7]


