Bước chân lên chiến khu
Sau ngày 16/3/1945, Đội Du kích Cứu quốc Ba Tơ triển khai xây dựng căn cứ ở vùng núi Cao Muôn – Cơ Nhất theo nguyên tắc “hóa chỉnh vi linh, hóa linh vi chỉnh”, chia nhỏ lực lượng bám dân, đẩy mạnh công tác dân vận, giáo dục ý thức bí mật “ba không”. Trong điều kiện thiếu đói gay gắt, anh em chỉ ăn cháo rau rừng cầm hơi, nhưng được đồng bào các vùng Trường An, Suối Bùn, Tân Long âm thầm tiếp tế. Tình quân dân gắn bó như cá với nước trở thành chỗ dựa sống còn của căn cứ. Song song với xây dựng cơ
Đúng ngày 16 tháng 3 năm 1945, sau khi chuyển quân ra bắc chân núi Cao Muôn, để thực hiện nguyên tắc "Hóa chỉnh vi linh - Hóa linh vi chỉnh" đã học được trong nhà tù về chiến tranh du kích, chúng tôi chia đội làm Ba Toán, mỗi toán sáu đồng chí (lúc này kết nạp đồng chí Hoa và Cả chính thức là đội viên trong đội) để chia nhau tiến hành công tác dân vận đi sát từng xóm, từng nhà, giáo dục nhiệm vụ cách mạng, ý thức bí mật ba không (không biết, không thấy, không nghe: ứ ni, ú nó, ú tân) và ăn thề đoàn kết đánh Nhật đuổi Tây với đồng bào trong vùng, ngày phân tán đi công tác, tối tập họp tại địa điểm định trước rút kinh nghiệm và bố trí kế hoạch cho những ngày tiếp theo. Qua vài ngày hoạt động, lương thực dự trữ mang theo đã cạn dần vì lương thực cướp được trong đồn thì đã phân phát cho nhân dân, khi chuyển quân, đồng bào ủng hộ, nhưng mang theo chí được 5-7 lon gạo, cho nên chúng tôi phải hạn chế ăn mỗi suất chí một lạng gạo. Mùa này ở Cơ Nhất bị hạn hán nên đồng bào dân tộc cũng đói. Chúng tôi phải hái rau rừng và xin rau lang của đồng bào để nấu cháo (cứ mỗi nồi cháo cho 6-7 đồng chí ăn thì chỉ một lon gạo cộng với rau lang đầy nồi để ăn độn cho no bụng). Qua thử thách như vậy, mới thấy rõ ý chí kiên cường của anh em, cũng là lúc thấy rõ tấm lòng của đồng bào dân tộc ở Cơ Nhất đối với đội quân trong thời kỳ trứng nước. Mặc dù khi chúng tôi đi khi đến đều tuyệt đối bí mật, nhưng rừng núi, sông suối là quê hương của đồng bào, nên ở đâu đồng bào cũng tìm đến cho khoai, cho rau. Một hôm tôi đi dân vận anh Cai Đe (người cai tôi quen biết khi ở tù Gi Lăng), chúng tôi mừng mừng tụi tủi, anh khóc và có năn nỉ chúng tôi ở lại cùng ăn một bữa cưm đoàn kết. Khi tôi ra đi, anh cũng đem mấy bát gạo còn lại đổ vào ruột nghé buộc phải mang về. Anh chỉ đám lúa đã hườm trái mây trước nhà nói: "Ngày mai tôi sẽ bứt lúa cho vào nồi rang là có gạo, các anh đừng lo". Tấm lòng chân thành của anh làm cho tôi nhớ mãi tình thương yêu của đồng bào dân tộc đối với chúng tôi.
Tình hình thiếu đói của đội du kích được đồng chí Phan Xuân, Nguyễn Nhạn và Nuyễn Chương (rể ông giáo Đàm) thông báo cho cơ sở vùng Trường An, Suối Bùn. Đồng bào quyên góp lương thực, thực phẩm, ngược dòng sông Vệ gửi lên trạm tiếp nhận ở phía đông bến Buôn. Đêm đêm những chiếc thuyền gỗ cạch cạch cạch theo nhịp ba tiếng một vào mạn thuyền, thì tiếng chim ụt ụt lại kêu lên làm ám hiệu cập bờ để giao hàng tiếp tế. Cơ sở Cứu quốc ở Trường An - Tân Long càng lo lắng bao nhiêu, thì bị gạo, giỏ khoai, cá khô, mực muối lại đầy ắp bấy nhiêu. Đặc biệt ông bà giáo Đàm và cả gia đình nhịn ăn để tiếp tế gạo cho du kích (sau này những ngày trở lại hàn huyên chuyện cũ chúng tôi mới biết). Thật là tấm lòng vàng hiếm có.
Qua những ngày đầu xây dựng căn cứ, chúng tôi càng thấm bài học du kích với đồng bào như cá với nước, thiếu nước thì cá không sao sống được. Tất cả đội viên chúng tôi càng gần gũi dân. Lúc đầu chúng tôi sợ phiền lòng dân, sợ lộ bí mật. Nhưng khi đã hiểu được và nắm được dân, chúng tôi thường cho phân tán một bộ phận ở hẳn trong nhà dân, để vừa làm công tác tuyên truyền giáo dục vừa giúp đỡ chăm sóc các em và lo thuốc men chữa bệnh cho đồng bào bị ốm đau. Qua đó mà địch tình, dân tình chúng tôi nắm chắc hàng ngày, niềm tin sắt đá vào dân càng củng cố, vị trí trú quân cũng như kế hoạch lưu động công tác ngày càng đi vào nền nếp ổn định.
Song song với kế hoạch xây dựng cơ sở chính trị trong vùng căn cứ là công tác hàng đầu, chúng tôi tổ chức một nhóm công tác do anh Kiệt phụ trách đi sâu vào vùng núi Cao Muôn tìm sào huyệt của anh Rua, Rói để phối hợp hành động. Qua hai ngày cắt rừng vượt suối, thình lình anh Kiệt bị sa vào ổ phục kích. Tiếng chách hú nổi lên. Cả nhóm dừng lại. Tốp người núp trong cây, đá bước ra, giương cung chĩa mác vào những ông khách không mời mà đến. Sau mấy lời đối thoại, biết rõ không phải là lính đồn Tây mà là an trí đã khởi nghĩa Ba Tơ, anh em vui mừng đưa khách vào lán, hai bên trao đổi nhiệm vụ cùng đánh Nhật đuổi Tây. Nhưng cuối cùng họ chỉ hứa lúc nào cần đến với họ thì báo trước. Con bây giờ họ chỉ cố thủ trong sào huyệt, chứ không phối hợp chiến đấu. Anh Kiệt trở về thất vọng, vì lúc này không cần ẩn trốn trong hang cùng ngõ cụt nữa, mà phải làm chủ một vùng rộng mênh mông mới chiến thắng được quân thù.
Một nhóm khác do đồng chí Phan Phong, Trịnh Anh tiến lên vùng tây sông Re, đến chỗ sân bay Pháp và Mỹ mới xây dựng, vì được tin chúng đổ súng đạn xuống sông Xà Lò khi bỏ chạy. Các đồng chí lận sâu xuống các hố nước xanh lạnh như nước đá để tìm súng đạn, cứ mỗi lần cúi xuống là hô khẩu hiệu "Hy sinh vì Tổ quốc". Sông Xà Lò có loại dị vật, đồng bào gọi là con nhiễu, mình to bằng bề ngang bàn tay, dài bằng cái đòn gánh, giống như con đỉa khổng lồ. Gặp ngươi yếu nó quấn được thì chết chìm; chịu ngụp lặn được lâu, cắt nó ra từng đoạn mới giành được mạng sống. Cuộc mạo hiểm dưới đáy sông chỉ thu lượm được ít súng cạc - bin đã phá hỏng.
Một nhóm đi Sơn Hà, Gi Lăng để liên lạc với căng an trí do đồng chí Đức (Lạc) phụ trách, đến nơi mới biết anh em tản về các địa phương. Mặc dù đồn Gi Lăng chính là nơi bọn Pháp theo Đờ Gôn đã chuẩn bị nhiều vũ khí đạn được (Ba-dô-va-vy làm đồn trưởng) để chống Nhật, tạo thành một hệ thống lên Kông Long - Công Tum nhưng tất cả bị Nhật đánh úp, ngày 9 tháng 3 khi cùng nhau tính kế ở thị xã Quảng Ngãi.
Cơ sở ở Ba Tơ báo tin cho biết sau khi Nhật lên chiếm đồn ngày 15 tháng 3 thì sau đó tên Bùi Danh Ngũ, kiểm lý châu Ba Tơ, cũng trả lại nhận chức cũ và đã tập họp bọn hào lý Kinh, Thượng ngóc đầu dậy hoạt động. Chúng tôi viết một bức thư cảnh cáo nói rõ thời cuộc và nhắc lại lời thề của hắn xin về nhà làm ăn không dám có hành động chống lại cách mạng. Anh Nguyễn Khoách đến vận động nhà sư trụ trì chùa ở suối Loa, đem thư trực tiếp đưa cho Bùi Danh Ngũ1 (Bùi Danh Ngũ trở lại làm chức tri châu Ba Tơ). Nhà sư hăng hái nhận nhiệm vụ và cũng từ đó nhà sư trở thành cơ sở của Việt Minh nắm được nhiều tin tức từ châu lỵ báo cho chúng tôi.
Sau mấy ngày lưu động công tác nắm dân, chúng tôi bí mật chuyển quân lên xóm Ba Nhà (Gọi Tui) nơi trước đây tôi đã đến thăm. Toàn đội trèo núi từ sớm đến chiều mới tới nơi. Gặp lại chúng tôi, đồng bào hân hoan khôn xiết và trách sao chúng tôi lâu quá mới đến.
- Chúng tôi đợi để lấy được nhiều súng đạn, nay mới lên để cùng các anh đánh Nhật đuổi Tây.
- À, ở đây Nhật, Tây nó lên thì mình đánh nó chết hết thôi! Ông già làng vừa nói vừa cười rất hạ hê thấy anh em ta có đầy đủ súng đạn...
Những ngày ban sơ này chúng tôi đã đón nhận gần 20 anh em chính trị phạm Thanh Hóa từ nhà lao Quảng Ngãi1 (Chiến khu Ngọc Trảo (Thanh Hóa) bị địch đánh phá, chúng đày tù nhân vào Quảng Ngãi năm 1941) kéo lên tham gia đội du kích. Thấy rõ bước khó khăn ban đầu và tình hình tư tưởng anh em cũng móng trở lại quê hương hoạt động, chúng tôi nói rõ khả năng phong trào Việt Minh có thể bảo đảm đưa anh em lên xe lửa về Thanh Hóa. Cuối cùng còn ba đồng chí xin ở lại chiến đấu với đội du kích Cứu quốc Ba Tơ, không chịu về. Đó là đồng chí Súy, đồng chí Mộc và bác già Hương. Số còn lại lần lượt đưa về quê được an toàn.
Qua một tuần "vạn sự khởi đầu nan", bao nhiêu khó khăn bức bách đã vượt qua, các nhóm công tác đặc biệt đều trở về. Kết quả tuy ít, nhưng qua thử thách gian truân, mỗi người chúng tôi thêm kiên định vững vàng. Công tác dân vận, công tác tiếp tế được ổn định.
Tạm biệt xóm Ba Nhà trên núi Cao Muôn, chúng tôi lưu động toàn đội về vùng Nước Hoa. Buổi sớm tập hành quân, triển khai đội hình phong ngự đánh địch, một toán đóng giả quân địch. Đậi bộ phận làm quân ta lợi dụng địa hình, địa vật phục kích đánh địch khi vào chiến khu, tập xong thảo luận, lấy "quân địch" nhận xét quân ta, bố trí đúng sai thế nào? Xuất hiện lúc nào thì diệt được địch, bảo vệ được mình? Lợi dụng điểm cao, theo thế núi rừng, nhưng cao chừng nào thì thấy địch từ xa mà bắn được địch khi đến gần và có đường rút lui khi cần thiết được thuận lợi... Ngày nào cũng tập, ngày nào cũng bình kỹ thuật, chiến thuật một cách dân chủ, rồi kết luận làm bài học chung.
Đồng thời tập tháo lắp súng, bịt mắt để tháo lắp giả như bị hòng hóc trong chiến đấu ban đêm. Tập lấy đường ngắm cho trúng đích, rồi đưa nhau vào đầu suối tập bắn đạn thật, vẽ bia trên đá, vừa bắn được mấy viên thì nghe đạn bay chiu chiu trên đầu mình, lúc bấy giờ mới biết bắn vào đá đạn bị thia lia bay về phía mình rất nguy hiểm, sau phải tập bắn vào núi đất.
Tất cả đều lần mò trong thực tế thử nghiệm, vì không có thầy, không có sách. Sau này Mặt trận Việt Minh huyện Đức Phổ có một thanh niên Cứu quốc trước là lính khố đỏ (Huỳnh Quang Lầu) tình nguyện lên chiến khu, mới dùng đồng chí ấy làm huấn luyện viên kỹ thuật.
Càng tập luyện, càng thảo luận dân chủ, mỗi người chúng tôi càng thêm hiểu biết, và càng tin tưởng "một viên đạn là một quân thù". Trong giờ giải lao giữa rừng sâu vách núi hùng vĩ, lòng đầy phấn khởi, anh em cất tiếng hát:
"Ngắm cho nòng súng"
"Đừng cho quân thù thoát"
"Quân thiếu niên tiền phong"...
Mùa lúa tháng ba đã ngả màu ửng vàng trên đồng, ông chánh Run và phó Nia, chánh Liêu là thủ lãnh cao nhất trong vùng Cơ Nhất ngỏ ý với chúng tôi: "Chúng ta cần mua giữ lúa gạo trong vùng làm lương thực dự trữ lâu dài, muốn vậy cần nói với Việt Minh trung châu đưa vải vóc, áo quần kim chỉ, và lưỡi cày lưỡi cuốc lên. Chúng tôi sẽ đổi lúa gạo trong dân cho đội quân an trí. Đồng thời chúng ta tổ chức một lễ lớn cúng trời đất, toàn dân cùng ăn thề một lòng một bụng làm cách mạng, rồi chúng tôi cho cắm lá (ám hiệu của dân tộc, cấm trong không ra, ngoài không vào) không cho con buôn vào mua lúa, không cho Việt gian vào dò la tin tức, để giữ bí mật".
Chúng tôi đồng ý và định ngày làm lễ toàn đội ăn thề.
Một buổi chiều quang đãng, bên một mé rừng ở trung tâm Cơ Nhất, mấy nghìn đồng bào đại diện cho tất cả làng xóm trong vùng tập họp chỉnh tề giáo mác lấp lánh trong rừng người. Một giàn hoa - nêu cao, một con trâu buộc vào trụ đúng yên lặng.
Tôi và anh Kiệt thay mặt cho đoàn quân, ông chánh Run, phó Nia thay mặt cho toàn dân. Ông cất tiếng xói xói xói... (Hỡi trời đất ...) kéo dài một hồi lâu, các ông cùng chúng tội cắt máu ở tay mình chảy vào bát ruợu, dâng lên giàn hoa, cùng thề ai phản bội sẽ bị trời tru đất diệt. Rồi bưng rượu hòa máu chuyền tay nhau cùng uống ghi nhớ lời thề. Sau đó là lễ đâm trâu. Tiếng chách hú, tiếng hò hét reo vang, đánh dấu một ngày thiêng liêng, toàn dân Cơ Nhất từ già đến trẻ, từ gái đến trai một lòng một dạ theo cách mạng đánh Nhật đuổi Pháp giành độc lập cho núi sông đất nước này.
Cuộc liên hoan tưng bừng cho đến nửa đêm. Kết thúc, từng đoàn người trở về buôn làng, với ngọn đuốc soi đường trong đêm tôi, cũng là ngọn đuốc cách mạng.
Ba hôm sau được tin mấy lính Nhật cùng bọn tay sai dẫn đường từ Sơn Hà theo suối Tầm Rao xuyên rừng vào huyện Minh Long. Đồng bào dân tộc Minh Long báo tin cho chánh Liêu truyền tin cho chánh Run để báo cho chúng tôi biết và xin lệnh của đội cho nhân dân tiêu diệt chúng.
Để khỏi bộc lộ vùng căn cứ, và tránh sự tàn sát trả thù của Nhật, chúng tôi thuyết phục ông chánh Run theo dõi sát địch xem hành động của chúng nó. Nếu nó không áp bức khủng bố nhân dân, thì chúng ta bán ít lương thực, cho nó ngủ nhờ một đêm và chỉ đường cho chúng nó về Ba Tơ chứ không đánh giết chúng.
Ngày hôm sau từ Minh Long, chúng vào Ca Nhất hỏi thăm người già, trẻ con... có thấy cộng sản an trí Ba Tơ ở đâu không. Từ người lớn đến trẻ con đều nói: ú ni, ú nó... (không biết, không thấy). Cuối cùng chúng xin mua mấy con gà và cho mấy thanh niên canh gác cho chúng ngủ một đêm tại nhà lúa ngoài đồng. Nửa đêm, mấy thanh niên Cứu quốc của đồng bào dân tộc chạy vào báo cho đội là chúng nó đi xa mệt mỏi, ăn xong chúng ngủ lặng cả, yêu cầu đội cho phép cắt cổ lấy súng, không giết để lấy súng thì tiếc quá. Chúng tôi ra lệnh không giết. Anh em bực tức giậm chân, dập đuốc kéo nhau vể. Thấy anh em chưa thấy hết lợi hại, anh Kiệt cùng đi theo để thuyết phục tránh hành động mạo hiểm.
Mấy tên Nhật ngủ một đêm rồi hỏi đường về đồn Ba Tơ. Qua đó, chúng tôi thấy tinh thần cảnh giác của đồng bào và tinh thần kỷ luật của thanh niên chấp hành chủ trương cách mạng tốt.
Về tình hình nhân dân trong căn cứ, qua mấy đợt vận động, qua ngày lễ tuyên thệ toàn vùng, qua thử thách tinh thần cảnh giác và ý thức kỷ luật, lại vận dụng phong tục địa phương cắm lá chặn đường, chúng tôi thêm tin tưởng, càng thấm thìa lời dạy của ông cha xa xưa "Dân là nước, nước nâng thuyền lên nhưng cũng có thể lật thuyền". Từ đây toàn đội càng tăng cường quan hệ quân dân, nhất là các đồng chí được phân tán bám sát xây dựng cơ sở. Qua thử thách chúng tôi kết nạp các đồng chí Nhóa, Beo và Nhép là thanh niên Cứu quốc dân tộc Re vào đội du kích Cứu quốc quân (Đồng chí Nhép sau này trở thành cán bộ dân tộc Re đầu tiên tham gia chiến đấu suốt hai cuộc chiến tranh, và hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Mỹ ở Kom Long khi đồng chí là thiếu tá chỉ huy trưởng tiểu đoàn).
Sau lần anh Kiệt đi xem xét địa thế, chúng tôi quyết định chuyển quân về khu vục Nước Lá, xây dựng bố phòng chiến đấu, đảm bảo an toàn và tập luyện chiến đấu cho toàn đội.
Suối Nước Lá phát nguyên từ dãy núi Tai Mèo phía đông Cơ Nhất, có địa thế hiểm trở, đường vào độc đạo, hai bên là núi cao có rừng rậm khó xuyên qua. Có chỗ để tạo thao trường huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật. Chúng tôi tổ chức một cuộc hành quân để thu súng Tây còn bỏ lại trong nhân dân vùng tây Nghĩa Hành, đồng thời tập luyện hoạt động ra ngoài vùng căn cứ an toàn để rút kinh nghiệm.
Khánh Giang - Trường Lệ là các làng phía tây huyện Nghĩa Hành giáp phía đông huyện Ba Tơ, trên lưu vực sông Vệ, nguyên là vùng lộc điền của một tên đại Việt gian triều Nguyễn. Nhân dân ở đây toàn là tá điền nên tinh thần cách mạng khá tốt. Trong ngày khởi nghĩa Ba Tơ, nhóm cán bộ đồng chí Trần Lương về trung châu đã phát động quần chúng nhưng không cướp chính quyền, tuy vậy tinh thần hưởng ứng khởi nghĩa Ba Tơ, đang mong chờ tổ chức Việt Minh đến.
Những ngày Nhật đánh Pháp, lính khố xanh, khố đỏ rút chạy về đây rồi vất súng trong rừng, dưới suối, đồng bào thu lượm còn cất giấu, muốn nộp súng cho cách mạng, nhưng sợ Nhật biết thì nguy hiểm. Cuộc hành quân của chúng tôi nhằm hợp pháp hóa để đồng bào giao súng cho cách mạng, vì vậy phải cải trang như một đội bảo an binh. Anh Kiệt đóng vai đội, tôi đóng vai cai, anh Phan Phong đóng vai quyền, còn lại làm lính hơn mười người. Chúng tôi thông qua hệ thống cơ sở Cứu quốc, từ Ba Tơ, Trường An, suối Bùn và Hùng Nghĩa để nắm tình hình từ xa và bố trí các tổ cảnh giới ở đèo Đá Chát và suối Bùn là hai đầu đường địch có thể bất ngờ kéo vào Khánh Giang - Truờng Lệ để báo hiệu cho đội kịp thời đối phó.
Xuất phát từ Nước Lá, ba chiếc thuyền nhỏ ở bờ sông Vệ, xuôi dòng, gần trưa thì ghé vào chân núi Đá Chát. Hai cô gái con ông giáo Đàm đưa cơm lên bờ. Đúng 15 giờ lại xuống thuyền đến vị trí chỉnh đốn trang bị sẵn sàng chiến đấu, chia ra Ba Toán tiến vào làng, sục vào nhà, có ám hiệu của cơ sở chỉ dẫn để vận động. Cái khó là nói thế nào để đồng bào đưa súng cho bảo an binh mà tự biết là đưa súng cho quân cách mạng. Theo như đã chuẩn bị, tôi nói: Trong những ngày Tây chạy có bỏ súng ở vùng này. Chúng tôi biết bà con có bắt được, nếu đã nộp cho quân cách mạng rồi thì thôi, con chưa nộp thì nay chúng tôi về đây, bà con hãy giao cho chúng tôi. Đừng giữ lại để rồi sau này nộp lại cho Nhật, hay cho đội bảo an khác, thì bà con chẳng những có lỗi với Tổ quốc, mà chúng tôi cũng không hoàn thành được nhiệm vụ, bà con sẽ bị kỷ luật trừng trị.
Tiếng chó sủa, tiếng trẻ con reo nhau chạy theo làm rộn ràng làng xóm. Các ông chủ nhà chăm chăm nhìn mặt từng người bảo an binh miệng chúm chím cười, mà nước mắt lăn trên gò má, ấp úng, ngập ngừng như khó tìm lời đối thoại:
- Thưa các bác và thưa các anh, dạ tôi có nhặt được và cũng có cây súng săn với cây súng trường, sẽ giao nộp cho các anh làm nhiệm vụ. Nhưng lâu ngày quá chưa gặp được các bác, các anh, tôi xin mời vào nhà nghỉ một chặp, để chúng tôi làm cơm các anh cùng ăn với gia đình. Lâu ngày mới gặp, chúng tôi mừng lắm. Trời cũng đã chiều tối rồi, các anh nghỉ lại đêm nay rồi ngày mai sẽ đi cũng chẳng muộn gì. Mong các anh thông cảm tấm lòng của gia đình tôi - dạ xin mời. Miệng nói tay cầm tay như muốn kéo chúng tôi vào nhà, chiếc chiếu hoa trải sẵn trên phản.
Biết rằng đồng bào đã hiểu mình, tôi nói: Chúng tôi xin cảm ơn nhiệt tình của bác. Nhưng thời gian có ít, chúng tôi còn đi về Nghĩa Hành cho kịp không thể ở lại tới ngày mai. Xin gia đình cho chúng tôi nhận số vũ khí, kể cả súng sẵn của nhà. Thấy không thể giữ lại ăn cơm, đồng bào đưa hết súng đạn.
Chúng tôi cảm ơn gia đình và dặn dò sau này có bảo an binh hay quân Nhật về thu súng thì cứ nói là đã nộp cho bảo an binh nhận ngay này là được. Bà con dạ dạ đưa chúng tôi ra ngõ vẫn còn luyến tiếc không ở lại ăn cơm (thật tình có con heo đang cạo lông ở bếp), rồi ngó theo mãi bóng dáng người "bảo an binh" cách mạng khuất dần trong nẻo đường xa. Hành quân bên hữu ngạn, chúng tôi sục vào những nhà có súng, họ đều giao nộp, nhiều gia đình đối xử như thế, cũng có vài nhà ngơ ngác vì vẫn còn nghi ngờ chưa rõ chính tà. Lội sông qua tả ngạn sông Vệ gặp anh Phan Hùng (tức Phong) báo cáo đã thu được một cây súng máy nhưng mất cơ bẩm, còn một nhà có súng đạn thuyết phục mãi nhưng từ chối không chịu đưa. Tôi vào thuyết phục hết lời êm dịu cũng không xong, tôi lên giọng nộ nạt cũng không được. Cuối cùng tôi tát vào má người chồng, anh chồng vội ra bơ rào rút khẩu súng mút-cơ-tông, chị vợ lấy một mo đạn để trên giàn bếp đưa cho chúng tôi. Anh Kiệt chạy lại an ủi: "Ai bảo bác ngoan cố để thầy cai tức giận! Chúng tôi thu súng là để thực hiện nhiệm vụ lịch sử ích quốc lợi gia chứ không phải để lấy phần thưởng của quân Nhật đem súng đạn bắn giết đồng bào đâu!".
Lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng tôi phải tát tai đồng bào trong đời tham gia cách mạng của tôi, một sự việc bất đắc dĩ phải làm vì sự nghiệp cách mạng. Tôi vẫn nhớ đời.
Hoàng hôn ập đến, chúng tôi lên đường trở về chiến khu Nước Lá trong đêm sương lạnh, ngủ lại giữa rừng. Cuộc hành quân thu được nhiều súng đạn, nhưng phần lớn là súng bị mất kim hỏa, mất cơ bẩm, lò xo. Kết quả quan trọng hơn là tập dượt, rút nhiều kinh nghiệm; mặt khác cũng là một cuộc võ trang tuyên truyền. Sau khi chúng tôi đi, bà con bàn tán xôn xao, cuối cùng họ đoán chắc là đưa súng đúng tay những anh em an trí khởi nghĩa Ba Tơ. Từ đó Khánh Giang - Trường Lệ và cả xã Hành Tín sau này chẳng bao lâu cơ sở Cứu quốc Việt Minh toàn vùng trở thành vành đai vững vàng phía bắc chiến khu Nước Lá của đại đội Hoàng Hoa Thám.



