Bước đầu phục dựng giai đoạn hoạt động cuối cùng của phong trào khởi nghĩa do Hoàng Đình Kinh lãnh đạo qua tài liệu “Nhà Kinh lược Bắc Kỳ”
Tháng 8 năm 1858 liên quân Pháp, Tây Ban Nha nổ phát súng xâm lược đầu tiên vào cảng Đà Nẵng và dần từng bước thực hiện tham vọng áp đặt chế độ cai trị lên đất nước ta.
Tiếp đó, năm 1862 (tức năm Tự Đức 15) Pháp, Tây Ban Nha đã ép triều đình Huế ký Hiệp ước “Hòa bình và Hữu nghị” (còn gọi là Hiệp ước Nhâm Tuất) gồm 12 điều khoản trong đó quy định toàn bộ vùng đất 3 tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và đảo Côn Lôn thuộc về chủ quyền của Pháp. Ngày 15 tháng 3 năm 1874 (tức ngày 27 tháng giêng năm Tự Đức 27) triều đình Huế lại một lần nữa ký với Pháp một hiệp ước khác mang tên “Hòa bình và Liên minh” (hay còn gọi là Hiệp ước Giáp Tuất). Theo Hiệp ước này, triều đình Huế phải thừa nhận chủ quyền của Pháp trên toàn bộ phần đất từ phía Nam tỉnh Bình Thuận trở vào Nam. Ngoài ra các chính sách ngoại giao của An Nam đều phải được phía Pháp chấp thuận.
Tuy nhiên không dừng ở đó, ngay khi vua Tự Đức mất, lợi dụng lúc triều đình nhà Nguyễn còn đang lúng túng trong việc chọn người kế vị, ngày 20 tháng 8 năm 1883, quân Pháp bất ngờ đánh chiếm cửa biển Thuận An, cửa ngõ vào kinh đô Huế, sau đó buộc triều đình Huế phải ký Hiệp ước Hòa bình ngày 25 tháng 8 (hay còn gọi là Hiệp ước Harmand) gồm 27 điều khoản, trong đó triều đình Huế phải thừa nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp và chấp nhận nền bảo hộ của Pháp ở Trung và Bắc Kỳ. Sau đó quân Pháp liên tiếp đánh chiếm dần các tỉnh thành phía Bắc như: Phả Lại, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang… dọn đường cho một Hiệp ước mới còn gọi là Hiệp ước Patenôte ký ngày mùng 6 tháng 6 năm 1884 (tức ngày 13 tháng 5 năm Kiến Phúc 1). Hiệp ước gồm 19 điều khoản chính thức áp đặt quyền bảo hộ về mọi phương diện của người Pháp trên toàn cõi Đông Dương.
Kể từ khi thực dân Pháp chính thức xâm lược Việt Nam năm 1858, cũng đồng thời mở đầu cho hàng loạt các cuộc nổi dậy của nhân dân ta chống thực dân xâm lược kéo dài suốt nửa cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Phía Nam có các cuộc nổi dậy của Trần Thiện Chính, Phan Văn Đạt, Trương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân ở Gia Định; Nguyễn Văn Nhã ở Định Tường; Nguyễn Trung Trực ở Kiên Giang…. Miền Trung có Mai Xuân Thưởng ở Bình Định; Đào Trí, Phạm Văn Nghị, Phạm Gia Vĩnh ở Quảng Nam; Trần Tấn, Đặng Như Mai, Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Cao Thắng ở Nghệ Tĩnh; Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Tống Duy Tân ở Thanh Hóa…Bắc Bộ có Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên, Tạ Hiện ở Thái Bình, Phạm Duy Quang ở Nam Định, Nguyễn Quang Bích ở Hưng Hóa, Đốc Ngữ ở Hòa Bình, Hoàng Hoa Thám ở Bắc Giang.
Hòa trong phong trào yêu nước chống Pháp không thể không kể đến những cuộc nổi dậy của các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số như Lương Tuấn Tú ở Cao Bằng, Đào Tiến Lộc ở Yên Bái, Hà Quốc Thượng ở Hà Giang, Hoàng Thân Lợi ở Lào Cai và tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh ở Lạng Sơn.
Nói về cuộc nổi dậy của Hoàng Đình Kinh, trước hết nói về bối cảnh ở Lạng Sơn lúc đó. Lạng Sơn nằm trên tuyến đường huyết mạch thông sang Trung Quốc, lợi dụng vùng đất có nhiều núi đá hiểm trở nên nghĩa quân các nơi khi bị đàn áp thường chạy lên ẩn náu và tìm cách câu kết với các băng đảng nổi dậy của nhà Thanh để cùng chống lại quân Pháp. Vì vậy trong 2 năm 1884-1885, quân Pháp nhiều lần mở cuộc tấn công hòng chiếm được Lạng Sơn để trấn áp các phong trào nổi dậy ở đây, tuy nhiên đều vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân vùng Lạng Sơn và đều bị thất bại. Và để kiểm soát tuyến đường huyết mạch từ Hà Nội đi Lạng Sơn, đầu tháng 2/1885, thực dân Pháp chính thức xây dựng tuyến đường bộ Hà Nội – Lạng Sơn, bắt nhân dân quanh vùng phục vụ cho công trường. Do bị cưỡng bức làm việc quá sức, hàng loạt cuộc bỏ trốn tập thể đã diễn ra khiến Pháp vô cùng tức tối, đã áp dụng các biện pháp tàn tệ đối với công nhân khiến cho lòng căm phẫn và ngọn lửa đấu tranh chống Pháp ngày càng cháy lên hừng hực.
Trong bối cảnh sôi sục đó, cuộc nổi dậy của Hoàng Đình Kinh được khá nhiều quan lại và nhân dân ủng hộ, khiến quân Pháp nhiều phen khốn đốn. Tháng 6/1884, sau khi bị thất bại thảm hại tại trận Cầu Quan Âm, quân Pháp rút về đồn Bắc Lệ. Tại đây, nghĩa quân do Hoàng Đình Kinh lãnh đạo đã đánh cho tan tác, bắt sống một viên quan Hai, khi quân Pháp chạy đến núi Thiên Cầu tiếp tục bị nghĩa quân Hoàng Đình Kinh đuổi theo chặn đánh, bắt giết thêm nhiều lính Pháp, do vậy quân Pháp phải rút lui về tận Đáp Cầu.
Sau sự kiện binh biến tại Kinh thành Huế tháng 7/1885 do Tôn Thất Thuyết chủ xướng bị thất bại, vua Hàm Nghi đã phải rời Kinh đô để xây dựng căn cứ chống Pháp tại vùng núi Tân Sở - Quảng Trị. Tại đây, Vua ban hịch Cần Vương kêu gọi nhân dân chống Pháp. Hưởng ứng lời kêu gọi, các cuộc vũ trang nổ ra khắp nơi khiến thực dân Pháp càng thêm cay cú, tổ chức nhiều cuộc đàn áp khốc liệt cũng như ép buộc triều đình Huế phải mạnh tay với các phong trào phản kháng. Thời kỳ này hoạt động của nghĩa quân do Hoàng Đình Kinh lãnh đạo gặp rất nhiều khó khăn. Quân Pháp và quân triều đình lùng sục khắp nơi hòng bắt được Hoàng Đình Kinh.
Khảo cứu khối tài liệu Nha Kinh lược Bắc Kỳ hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I cho thấy giai đoạn từ 1885 đến 1888, nghĩa quân của Hoàng Đình Kinh hoạt động khá mạnh, phạm vi không chỉ ở phủ Lạng Giang tỉnh Bắc Ninh quê hương ông mà còn lan rộng sang phủ Trường Khánh tỉnh Lạng Sơn và một số huyện thuộc Thái Nguyên. Tuy nhiên, nghĩa quân liên tiếp bị quân Pháp và quân triều đình truy đuổi gắt gao. Hàng loạt báo cáo của quan tỉnh Bắc Ninh, Lạng Sơn trình lên Kinh lược sứ Bắc Kỳ và của Kinh lược sứ đệ trình quan Thống sứ Bắc Kỳ và quan Toàn quyền Đông Dương Pháp đều tỏ ý lo ngại về tình hình hoạt động của “đảng phỉ Thuốc Sơn Hoàng Đình Kinh”.
Tờ tư ngày 16 tháng 1 năm Đồng Khánh Ất Dậu (1885) của Lãnh Án sát sứ Lạng Sơn gửi cho Kinh lược sứ Bắc Kỳ về việc Hoàng Đình Kinh câu kết với viên quyền lãnh Bố chánh sứ Lạng Sơn Vi Văn Lý và bọn Hà Khánh Sinh ở Thất Khê để mưu đồ làm phản và định chế tạo ấn triện riêng.
Báo cáo ngày 17 tháng 11 năm Đồng Khánh thứ nhất (1886) của tỉnh Lạng Sơn căn cứ trên tư trình của Chánh tổng tổng Quỳnh Sơn, huyện Võ Nhai rằng: Hoàng Đình Kinh phái suất bè đảng hội cùng với Dương Công Bồi là Phó tổng tổng ấy tụ tập hoạt động ở chợ Xuân Lai, sau đó lại chiêu mộ thêm được hơn 100 người tấn công 2 xã Quỳnh Sơn, Bác Sơn thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 21 tháng 3 năm Đồng Khánh 2 (1887) tỉnh Lạng Sơn lại trình việc bè đảng của Hoàng Đình Kinh cho dán hàng loạt cáo thị ở chợ Hoàng tổng Bằng Mạc chiêu mộ người theo nghĩa quân của Hoàng Đình Kinh.
Nhận thấy tình hình ngày càng căng thẳng, Thống sứ Bắc Kỳ đã lệnh cho Công sứ Pháp ở Lạng Sơn tăng cường thêm binh dõng tại địa phương, cấp thêm lương thực để truy quét, ngăn chặn các hoạt động của quân khởi nghĩa Hoàng Đình Kinh.
Báo cáo ngày 24 tháng 5 năm Đồng Khánh 3 (1888) của Kinh lược Bắc Kỳ trình lên Toàn quyền Pháp căn cứ vào tờ trình của tỉnh Lạng Sơn rằng: ngày mùng 1 tháng 5 quân của Hoàng Đình Kinh đã chiếm được toàn bộ Làng Dưỡng xã Thuốc Sơn, nhận được thám báo tỉnh Lạng Sơn đã bàn với quan Công sứ Pháp đốc sức binh dõng ở nhà Trường Khánh, Văn Quan, Văn Uyên chặn các ngả đường. Đêm ngày 11 ngầm tấn công vào sào huyệt của Hoàng Đình Kinh giết chết nhiều quân nổi dậy, đốt hết nhà cửa nhưng Hoàng Đình Kinh đã trốn thoát lên đỉnh núi. Quan Công sứ Pháp đã cho tăng cường thêm 260 lính dõng do đích thân Phó Công sứ cùng Tri phủ Trường Khánh chỉ huy bao vây các ngả. Ngày 19 một thủ hạ của Hoàng Đình Kinh là Hoàng Quản Anh người xã Đằng An đã làm phản ngầm dẫn quân Pháp và quân triều đình lên núi công phá bắt chém được 5 tướng cùng hơn 40 thủ hạ, bắt được vợ con Hoàng Đình Kinh 5 người. Quan Công sứ Pháp đã ra lệnh chặt đầu 5 tướng lĩnh của Hoàng Đình Kinh và đem bêu thủ cấp ở chợ để răn đe những người theo ủng hộ Hoàng Đình Kinh.
Báo cáo ngày 25 tháng 5 năm Đồng Khánh 3 (1888) của Thị lang lãnh Tuần phủ Lạng – Bằng trình lên Kinh lược sứ Bắc Kỳ thì Hoàng Đình Kinh sau khi bị công phá vào sào huyệt đã bỏ trốn và dự biết được có thủ hạ làm phản nên đã ủy phái người sang Trung Quốc chiêu mộ thêm binh lính ngầm quay trở lại tiếp viện. Tỉnh ấy (Lạng Sơn – Cao Bằng) lập tức phái thêm nhiều lính dõng chặn giữ các cửa ải hiểm yếu để đề phòng quân của Hoàng Đình Kinh ẩn náu. Sau đó tên Hoàng Văn Vịnh là dân thôn Dương Lỗ xã Huân Phong huyện Văn Quan đến bẩm rằng y may mắn gặp Hoàng Đình Kinh ở trong núi và đã dụ về nhà khoản đãi cơm, thấy Hoàng Đình Kinh nói là đang tìm đường sang nước Thanh và lấy 3 vạn lạng bạc làm thù lao nhờ tên ấy dẫn đường. Tên này đã dẫn Hoàng Đình Kinh đến ở nhờ nhà em hắn ở xã An Thạch thuộc phủ Trường Khánh ẩn náu đồng thời ngầm đến bẩm báo với quan tỉnh. Tỉnh ấy lập tức sai Phó lãnh binh Phạm Văn Khoa đem binh lính đến nơi và đã bắt giữ được Hoàng Đình Kinh giải về tỉnh. Quan Công sứ Pháp tại tỉnh bàn rằng Hoàng Đình Kinh là nghịch phạm quan trọng cần giao cho tòa Công sứ giam giữ và xét xử, vì vậy đã chuyển giao cho tòa Công sứ, còn tên Vịnh dụ bắt được Hoàng Đình Kinh sẽ tư riêng xin xét thưởng.
Sau khi bắt được Hoàng Đình Kinh, quân Pháp rất vui mừng vì đã nhổ được cái gai nhọn trước mắt, tuy nhiên ban đầu bọn chúng còn nghi ngờ chưa dám tin là sự thật nên yêu cầu tên Bành Văn Chư là người tổng Thuốc Sơn cùng quê với Hoàng Đình Kinh đến xác nhận. Sau khi đã chắc chắn bắt được Hoàng Đình Kinh, người Pháp lo rằng nếu không xử ngay sẽ sinh biến do Hoàng Đình Kinh là một thủ lĩnh có ảnh hưởng khá lớn đến các phong trào khác cũng như đối với nhân dân trong vùng, vì vậy Pháp đã ra lệnh xử chém gấp mà không chờ xét xử thậm chí còn không thông qua quan Kinh lược Bắc Kỳ.
Ngày 28 tháng 5 năm Đồng Khánh 3 (1888) Tuần phủ Lạng – Bằng họ Vi làm tờ trình lên Kinh lược Bắc Kỳ rằng: 1 giờ đêm qua được quan Công sứ Pháp báo rằng quan Toàn quyền vừa điện báo là cần đem Hoàng Đình Kinh xử trảm ngay và truyền cho viên Tuần phủ ấy tuyên đọc bản luận tội. Viên ấy chẳng biết làm thế nào nếu đợi quan Kinh lược trả lời e quá trễ mà Hoàng Đình Kinh thì hiện đang bị giam ở tòa Công sứ tỉnh. Vì vậy, viên ấy đã ủy phái cho Phó lãnh binh Phạm Văn Khoa đem lính đến dẫn giải. 5 giờ sáng viên ấy đến tòa Công sứ cùng viên Công sứ tuyên tội Hoàng Đình Kinh, sau đó quan binh của tòa Công sứ áp giải Hoàng Đình Kinh đến pháp trường dựng tại chợ Thành để xử chém trước toàn thể quan lại và nhân dân trong tỉnh. Việc xong tòa Công sứ lệnh cho phủ Trường Khánh đem thủ cấp của Hoàng Đình Kinh đến nơi sào huyệt hoạt động của đảng ấy treo bêu đầu để răn đe, lại dán 26 trang yết thị để vạch tội và kêu gọi các thủ hạ còn lại của Hoàng Đình Kinh ra đầu thú.
Ngày mùng 1 tháng 8 năm Mậu Tý tức ngày 24 tháng 6 năm 1888 quan Toàn quyền Đông Dương sau khi đã nhận được báo cáo từ quan Kinh lược Bắc Kỳ đã gửi thư trả lời bày tỏ nỗi vui mừng về việc bắt được Hoàng Đình Kinh, bản dịch tóm tắt từ tiếng Pháp sang chữ Nôm như sau: “Quan Kinh lược kính mến, quan lớn đã gửi thư cho tôi ngày 17 tháng 7 (tức ngày 27 tháng 5) nói về việc bắt được tên Hoàng Đình Kinh là tướng giặc, thời tôi xin cảm ơn quan lớn, tôi nghĩ việc bắt tên Hoàng Đình Kinh là việc rất lớn nên tôi cũng biết việc quan Tổng đốc Lạng Sơn làm thực là đáng khen”.
Sau khi Hoàng Đình Kinh bị bắt và bị xử chém, phong trào cũng nhanh chóng tan rã, một số nghĩa quân kiên cường kháng cự không chịu đầu hàng cũng dần bị Pháp bắt, số còn lại đều ra đầu thú. Mặc dù phong trào khởi nghĩa do Hoàng Đình Kinh lãnh đạo diễn ra trong thời gian không dài khoảng 7 năm (1882 - 1888) nhưng có ý nghĩa và ảnh hưởng không nhỏ đối với các cuộc nổi dậy của đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc nói riêng và các phong trào chống Pháp của nhân dân ta cuối thế kỷ 19 nói chung.
Nghiên cứu tài liệu Nha Kinh lược Bắc Kỳ nhận thấy phong trào tuy đã có những thành công nhất định nhưng cũng bộc lộ nhiều nhược điểm như: hoạt động còn manh mún chưa tập hợp được sức mạnh ủng hộ của nhân dân; mặc dù trải ra trên địa bàn khá rộng lớn nhưng sự liên kết giữa các nhóm trong tổ chức còn lỏng lẻo nên dễ bị quân Pháp và quân triều đình chia rẽ; các hoạt động của phong trào đôi khi còn gây phiền nhiễu cho nhân dân khiến dân không những không ủng hộ còn ngầm giúp triều đình và quân Pháp chống lại quân khởi nghĩa. Tài liệu cũng làm rõ những điểm còn tồn nghi về Hoàng Đình Kinh mà sử sách ghi chép chưa rõ ràng như nơi ông bị bắt trên đất Việt Nam hay Trung Quốc, bị bắt ngày tháng năm nào, do ai bắt, bị hành quyết ra sao…
Có thể nói phong trào khởi nghĩa do Hoàng Đình Kinh lãnh đạo hay còn gọi là cuộc khởi nghĩa Cai Kinh tuy vẫn còn những hạn chế nhất định nhưng không thể phủ nhận sự đóng góp của phong trào đối với lịch sử chống giặc ngoại xâm.


