BƯỚC KHAI PHÁ BAN ĐẦU – CÂY NHO PHÁ THẾ ĐỘC CANH TRONG GIÓ MỚI ĐỔI MỚI (1986 – 1988) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN
Trong tâm khảm của người cán bộ cách mạng Trần Thanh Sơn, giai đoạn 1986 – 1988 là một khúc quanh lịch sử đầy trăn trở nhưng bừng sáng hy vọng. Đi qua những năm tháng khói lửa ác liệt ở biên giới Tây Nam và nước bạn Campuchia trở về, nhìn cảnh quê hương sau 10 năm giải phóng vẫn còn nặng gánh lo âu: lúa làm ra phải nộp kho theo nghĩa vụ, đời sống bà con xã viên còn nhiều thiếu thốn, hàng hóa khan hiếm, cơ chế bao cấp đè nặng lên từng nếp nhà.
Chính luồng gió mới từ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã thổi bùng lên ngọn lửa khát khao thay đổi. Câu hỏi lớn nhất của cấp ủy và những người lính trở về lúc bấy giờ là: Phải làm gì để nông dân Ninh Phước có tiền tươi, có áo lành, thoát khỏi cảnh chạy ăn từng bữa khi hạt thóc không đủ trang trải trăm thứ chi tiêu?
Câu trả lời bắt đầu hé mở từ những giàn nho đầu tiên được dựng lên từ tre nứa và dây kẽm thô sơ trên đất Phước Dân.
1. Dám nghĩ, dám làm: Đột phá thử nghiệm giữa vòng vây độc canh
Trước năm 1986, tư duy nông nghiệp tại địa phương gần như đóng khung trong mục tiêu an ninh lương thực: dồn toàn bộ sức người, sức của vào cây lúa nước và các loại hoa màu phụ như sắn, khoai:
Sự nhạy bén của các Hợp tác xã tiên phong:
Nhận thấy đất cát pha thịt ven sông Dinh có khả năng thoát nước tốt, kết hợp với lượng nắng dồi dào quanh năm, một số Ban Quản trị Hợp tác xã và các hộ xã viên nhạy bén đã không thụ động chờ chỉ tiêu giao từ trên xuống.
Họ lặn lội tìm kiếm hom giống nho (chủ yếu là giống nho đỏ truyền thống Cardinal), tận dụng những khoảnh đất vườn nhà, đất bờ bao, bãi bồi ven sông để cắm cành thử nghiệm.
Vượt qua nghi ngại ban đầu:
Thời điểm đó, không ít ý kiến e dè: trồng cây ăn trái dài ngày nhỡ thất mùa thì lấy gì ăn, chi phí làm giàn, dây kẽm quá đắt đỏ so với túi tiền của xã viên.
Nhưng bằng sự kiên trì, người nông dân Ninh Phước đã tự học hỏi kỹ thuật cắt tỉa cành, bấm ngọn, theo dõi từng chu kỳ ra hoa, đậu quả. Dưới ánh nắng gay gắt đặc trưng, những chùm nho đầu tiên đã kết tinh vị ngọt đậm đà, màu sắc tươi tắn, chứng minh sự tương thích kỳ diệu giữa loài cây này với khí hậu địa phương.
2. Hàng ngàn tấn nho ra thị trường tự do: Luồng sinh khí mới cho kinh tế hộ
Hiệu quả kinh tế của những vườn nho thử nghiệm giai đoạn 1986 – 1988 đã tạo nên một "cơn địa chấn" trong đời sống kinh tế nông thôn Ninh Phước:
Khai thông dòng chảy hàng hóa tự do:
Khi cơ chế cấm chợ ngăn sông dần được gỡ bỏ theo tinh thần Đổi mới, các vườn nho Ninh Phước bắt đầu bước vào chu kỳ thu hoạch rộ.
Không còn cảnh hàng hóa ứ đọng hay thu mua cào bằng, hàng ngàn tấn nho tươi được cắt tỉa, đóng sọt tre cẩn thận, theo các chuyến xe đò, xe tải xuôi ngược tỏa đi khắp các thị trường tự do từ Phan Thiết, Nha Trang vào đến Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiền tươi thóc thật về với người cày:
Giá trị kinh tế của một sào nho (1.000 m²) khi ấy đem lại nguồn thu nhập gấp cả chục lần so với trồng lúa. Lần đầu tiên sau nhiều năm, người nông dân có trong tay những món tiền mặt lớn để sửa sang nhà cửa, mua sắm chiếc đài cassette, xe đạp, sắm sửa quần áo mới cho con cái đến trường.
Đời sống của các hộ gia đình xã viên tham gia trồng nho nâng lên rõ rệt. Cây nho đã giải tỏa được cơn khát tiền mặt giáp hạt, chứng minh một chân lý sống động: nông dân hoàn toàn có thể làm giàu chính đáng trên chính mảnh vườn quê hương mình.
Ý NGHĨA LỊCH SỬ BẤT TỬ
Chiêm nghiệm lại bước khởi đầu của cây nho trong giai đoạn 1986 – 1988, người cán bộ cách mạng Trần Thanh Sơn luôn khẳng định:
Đó là bước đột phá tư duy mang tính bản lề, mở đường cho cuộc chuyển mình lịch sử của nông nghiệp Ninh Phước:
Phá vỡ thế độc canh cây lương thực: Cây nho giai đoạn 1986 – 1988 là phát pháo lệnh đầu tiên chứng minh hướng đi đa dạng hóa cây trồng là hoàn toàn đúng đắn. Nó giúp cấp ủy và nhân dân nhận ra rằng: không nhất thiết phải biến mọi tấc đất thành ruộng lúa, mà phải biến đất đai thành nơi tạo ra giá trị hàng hóa cao nhất.
Đặt nền móng cho thời kỳ bứt phá: Thành công của "hàng ngàn tấn nho tươi" thời kỳ đầu Đổi mới chính là ngọn lửa mồi tiếp thêm niềm tin, để bước sang giai đoạn 1991 – 1995, cây nho bùng nổ diện tích từ 600 ha lên 1.232 ha, chiếm tới 50% giá trị ngành trồng trọt và tiến tới hình thành vùng chuyên canh hàng hóa quy mô lớn trước năm 2000.



