Anh hùng Lực lượng vũ trang

BUỔI GHI HÌNH VÀ GẶP GỠ ANH HÙNG HỒ ĐẮC THẠNH – THUYỀN TRƯỞNG TÀU KHÔNG SỐ VŨNG RÔ

Đắk Lắk21/04/2026Đỗ Thị Hồng (Đơn vị: Trường TH – THCS Lê Thánh Tôn)358 lượt xem40 lượt chia sẻ
BUỔI GHI HÌNH VÀ GẶP GỠ ANH HÙNG HỒ ĐẮC THẠNH – THUYỀN TRƯỞNG TÀU KHÔNG SỐ VŨNG RÔ

Lúc tuổi thơ, ngắm nhìn anh bộ đội

Thấy ngôi sao sáng ngời.

Con thích lắm mẹ ơi.

Mẹ bảo con gắng học cho nên người.

Mai khôn lớn mẹ cho đi bộ đội

Tuổi thơ tôi lớn lên từ những lời hát ru ngọt ngào ấy của mẹ. Để rồi mỗi khi giai điệu ấy cất lên, tim tôi lại rộn ràng niềm tự hào về người lính. Trong ký ức non nớt ngày ấy, hình ảnh chú bộ đội hiện lên thật đẹp và oai hùng: bộ quân phục xanh màu lá giản dị mà trang nghiêm, ngôi sao vàng lấp lánh trên vành mũ, cùng phong thái hiên ngang, vững vàng. Hình ảnh ấy đã lặng lẽ gieo vào lòng tôi niềm yêu mến và sự kính trọng dành cho những chú bộ đội ngay từ những ngày còn thơ bé.

Năm tháng trôi qua, tôi lớn lên và trở thành một cô giáo. Mang theo những ký ức tuổi thơ đầy ý nghĩa, tôi luôn mong muốn truyền lại cho học sinh của mình tình yêu Tổ quốc, lòng biết ơn đối với những thế hệ cha anh đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, được sự phân công của cô Hiệu trưởng, tôi đã đưa 11 em học sinh lớp 9 và 4 em học sinh lớp 8 tham gia ghi hình phim tài liệu tại Di tích lịch sử quốc gia Tàu không số Vũng Rô.

Chuyến xe của cô trò chúng tôi xuất phát lúc 6 giờ 30. Trên xe, các em không giấu được sự háo hức xen lẫn chút hồi hộp. Tiếng trò chuyện ríu rít, những ánh mắt sáng lên vì mong chờ khiến không khí vừa vui tươi, vừa trang trọng. Đúng 7 giờ, chúng tôi có mặt tại Di tích lịch sử quốc gia Tàu không số Vũng Rô. Tuy nhiên, chương trình chưa bắt đầu ngay. Trong lúc chờ đợi, cô trò chúng tôi ghé vào quán nước của chú bảo vệ gần đó để nghỉ chân. Trong không gian bình dị ấy, tôi nhẹ nhàng hỏi:

– Các em có biết hôm nay chúng ta sẽ gặp ai không?

Các em đồng thanh:

– Dạ không ạ!

Tôi mỉm cười:

– Hôm nay, chúng ta sẽ được gặp ông Hồ Đắc Thạnh.

Một vài em ngạc nhiên:

– Ông ấy là ai vậy cô?

Tôi bắt đầu kể cho các em nghe:

– Ông Hồ Đắc Thạnh sinh năm 1934. Đến nay, ông đã 90 tuổi. Quê ở phường 3, phường Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk). Năm 1958, ông được đào tạo hải quân và sau đó trở thành thuyền trưởng lực lượng Tàu không số. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bác đã 12 lần trực tiếp chỉ huy tàu vượt biển vận chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam. Đặc biệt, ông là thuyền trưởng của 3 chuyến tàu đầu tiên cập bến Vũng Rô an toàn vào những năm 1964–1965. Với những cống hiến to lớn ấy, ông đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2021.

Các em im lặng lắng nghe. Rồi những câu hỏi bắt đầu nối nhau:

– Cô ơi… tại sao ông lại dũng cảm như vậy ạ?

– Trên tàu không số thì ăn uống, sinh hoạt thế nào hả cô?

– Có khi nào bị địch phát hiện không ạ?

Tôi nhìn các em, nhẹ nhàng tiếp lời:

– Lát nữa, các em sẽ được gặp ông Hồ Đắc Thạnh. Ông Thạnh sẽ giúp các em hé mở cánh cửa thắc mắc đó.

Đúng 8 giờ, chiếc xe chở ông Hồ Đắc Thạnh cùng các cô chú bộ đội, phóng viên, nhà báo tiến vào khu di tích. Khi cửa xe mở ra, một ông lão với mái tóc bạc phơ bước xuống. Ông mặc bộ quân phục hải quân màu trắng tinh khôi, trên ngực áo lấp lánh những huy chương, huân chương – minh chứng cho một thời hoa lửa. Trên vai ông, đôi quân hàm trung tá sắc vàng ngời lên dưới nắng. Ánh mắt ông sáng ngời, gương mặt hiền từ, phúc hậu. Cả không gian như lắng lại. Ông đi chậm rãi, có hai chú bộ đội nhẹ nhàng dìu từng bước.

Ông được dìu vào nhà tưởng niệm. Ông ngồi xuống ghế. Các em học sinh ngồi ở hàng ghế xung quanh ông. Ông bắt đầu bằng những câu hỏi rất đỗi giản dị:

– Các cháu đợi ông có lâu không?

Các em đồng thanh:

– Dạ, không ạ.

Ông mỉm cười hỏi tiếp:

– Sáng nay, các cháu đã ăn sáng no chưa, để còn lấy sức nghe ông hành quân ngược thời gian nào?

– Dạ, rồi ạ.

. Tôi bước lên giới thiệu:

– Thưa ông, đây là các em học sinh lớp 8 và lớp 9 của trường TH–THCS Lê Thánh Tôn. Một ngôi trường địa phương ở Hảo Sơn Bắc, cũng gần đây thôi ạ. Còn cháu là cô giáo của các em.

Ông gật đầu, ánh mắt đầy trìu mến:

– Ông chào các cháu học sinh trường TH–THCS Lê Thánh Tôn.

Câu chuyện bắt đầu. Không phải bài diễn thuyết dài dòng, mà là những lời kể mộc mạc:

– Ông là trung tá Hồ Đắc Thạnh. Người vận chuyển vũ khí vào miền Nam, góp phần làm nên con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông công tác tại Đoàn 759 (sau này là Lữ đoàn 125 Hải quân), lực lượng đảm nhiệm tuyến vận tải chiến lược trên biển. Ngày đó, tàu của ông là “tàu không số” – những con tàu không mang phiên hiệu, không bật đèn, không phát tín hiệu, lặng lẽ rẽ sóng giữa màn đêm để tránh sự phát hiện của địch. Mỗi chuyến đi là một lần đối mặt với hiểm nguy cận kề: bão tố dữ dôi, sự truy lùng gắt gao của tàu chiến, máy bay địch và cả ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.

Ông dừng lại hỏi các em:

– Các cháu có biết vì sao gọi là tàu không số không?

Một em học sinh giơ tay trả lời:

– Dạ, thưa ông là để giữ bí mật ạ.

Ông gật đầu, ánh mắt hiền hậu:

– Đúng rồi. Những con tàu ấy không mang số hiệu để tránh sự phát hiện của kẻ thù. Nhưng các cháu biết không, trên mỗi con tàu lại mang một “số” rất lớn… đó chính là sinh mệnh của Tổ quốc.

Một em khác giơ tay đứng lên hỏi:

– Có khi nào tàu ông bị địch phát hiện không ? Lúc đó ông xử lí thế nào ?

– Có chứ cháu. Ông còn nhớ chuyến tàu đầu tiên vào Vũng Rô, 11/1964. Khi tàu 41 đi ngang vùng biển Đà Nẵng, Ngay lật lức, hai tàu tuần liễu của địch lao ra áp sát, chỉa nòng pháo vào tàu ta. Ông đã chỉ huy anh em ngụy trang thành tàu đánh cá. Các thủy thủ giả vờ treo cờ ba que và giơ cao những xâu cá, mực tươi lên như ngư dân đang đánh bắt cá. Sau 1 giờ theo dõi, không thấy dấu hiệu khả nghi, tàu địch đã bỏ đi.

– Vào tháng 11/1969, ông điều khiển tàu 54 chuyến thứ 12 tiến vào Vàm Lũng (Cà Mau). Bị địch nghi ngờ và đuổi theo. Ông đã cho tàu đi vòng qua các nước Đông Nam Á rồi rút về đảo Hải Nam (Trung Quốc). Sau đó quay lại cảng Hải Phòng an toàn.

– Cũng vào tháng 11/1966 trên tàu 41 vào Bãi Ngang (Quảng Ngãi), sau khi thả được 2/3 số hàng tại Bãi Ngang thì bị sóng lớn đánh cong chân vịt, không thể di chuyển được trong khi địch đang lùng sục. Để đảm bảo bí mật về nơi thả hàng và không để tàu rơi vào tay giặc. Ông đã cho nổ tàu để phá hủy.

Một em khác mạnh dạn hỏi:

– Thưa ông, lúc đó ông có sợ bị địch phát hiện không ạ?

Ông mỉm cười nhẹ:

– Sợ chứ cháu, ai cũng sợ. Nhưng nếu mình sợ mà quay đầu, thì đồng đội mình sẽ thiếu vũ khí, đất nước sẽ còn gian khổ hơn. Giữa biển khơi mênh mông, đối mặt với tàu địch to lớn, ông chỉ có niềm tin làm điểm tựa. Tin rằng một ngày nào đó, đất nước sẽ hòa bình, chiến dịch Hồ Chí Minh sẽ thắng lợi.

Câu trả lời giản dị mà sâu sắc khiến cả căn phòng im phăng phắc. Có em cúi đầu, rưng rưng nước mắt. Các cô chú phóng viên, quay phim lặng lẽ ghi lại từng khoảnh khắc. Những chú bộ đội đứng nghiêm trang phía sau, ánh mắt dõi theo ông với niềm kính trọng sâu sắc.

Sau đó, chúng tôi tiến đến đài tưởng niệm. Hai em học sinh nhẹ nhàng đỡ tay ông đi từng bước. Ông vừa đi vừa kể: “Những chuyến tàu năm đó… có chuyến không bao giờ trở về…”.

Một em thắc mắc hỏi:

– Ông ơi, trên tàu không số thì ăn uống, sinh hoạt thế nào ạ?

– Đồ ăn của ông lúc đó chỉ có: đồ hộp, cá khô, lương khô, từng hớp nước ngọt phải chia nhau tiết kiệm. Có những chuyến đi kéo dài nhiều ngày trên biển. Sóng lớn, tàu lắc mạnh. Nhiều chiến sĩ say sóng, mệt lả nhưng vẫn phải cố gắng làm nhiệm vụ. Ban ngày thì phải ngụy trang, sinh hoạt thật kín đáo. Ban đêm mới dám di chuyển. Không được bật đèn, không được gây tiếng động lớn vì chỉ cần lộ ra một chút thôi là rất nguy hiểm.

Một em cảm động thối lên:

– Đồng đội của ông phi thường quá.

– Sự phi thường đó đến từ lòng yêu nước đấy các cháu ạ.

Rời đài tưởng niệm. Chúng tôi đi đến đền thờ liệt sĩ để thắp nhang cho các chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc. Ông đứng đó, ánh mắt nhìn xa xăm ra vịnh Vũng Rô:

– Ở đây… có những đồng đội của ông vẫn đang nằm lại.

Một em học sinh xúc động hỏi:

– Ông ơi… ông có nhớ đồng đội của mình không ạ?

Ông lặng đi một nhịp, đôi mắt nhòe lệ:

– Nhớ chứ! Đêm nào ông cũng nhớ. Nhưng thấy các cháu được đến trường, được cười đùa thế này, ông biết đồng đội ông đã không hy sinh vô ích. Các cháu chính là món quà quý giá nhất mà ông và đồng đội nhận được sau chiến tranh. Tương lai đất nước sau này phụ thuộc vào các cháu đấy nhé.

Lúc này, một em chạy lại đưa chai nước cho ông:

– Ông uống nước cho đỡ mệt ạ. Rồi ông kể tiếp cho tụi cháu nghe nữa nhé!

Ông cười, ánh mắt ấm áp hẳn lên:

– Đấy, các cháu quan tâm thế này thì ông kể đến tối cũng không mệt!.

Ông hỏi về ước mơ của từng em. Có em nói muốn làm bộ đội, có em muốn làm bác sĩ, kỹ sư. Ông xúc động quay sang tôi:

– Cô giáo ạ, nhìn các cháu ngoan và có chí hướng thế này, tôi thấy ấm lòng lắm. Thế hệ của tôi coi như đã hoàn thành nhiệm vụ, giờ là lúc trông cậy vào các cháu.

Tôi chỉ biết nghẹn ngào đáp lễ:

– Dạ, chúng cháu cảm ơn ông. Được trò chuyện với ông là bài học lịch sử sống động nhất mà không sách vở nào thay thế được. Chúng cháu xin hứa sẽ giữ gìn những thành quả mà thế hệ của ông đã đánh đổi bằng máu xương.

Đến giờ ông lên cano để thực hiện các cảnh quay tiếp theo. Các cô chú phóng viên, quay phim cùng các chú bộ đội lần lượt bước lên cano. Cô trò chúng tôi tiễn ông ra bến. Các em quây lấy ông. Có em nắm tay ông thật lâu, không muốn buông. Có em cúi đầu thật thấp, giọng nghẹn lại:

– Con cảm ơn ông ạ. Con sẽ cố gắng học giỏi!

– Cháu chúc ông thật nhiều sức khỏe ạ!

– Ông ơi, ông nhớ giữ gìn sức khỏe nhé! Tụi con sẽ nhớ ông mãi!

Ông dặn dò:

– Các cháu cố gắng học thật tốt, vâng lời cha mẹ, thầy cô, như thế là cảm ơn ông rồi. Ông bây giờ đã già rồi, không thể cống hiến cho đất nước được nữa. Tương lai của đất nước sau này phụ thuộc vào các cháu cả đấy. Các cháu hãy giúp ông tiếp nối truyền thống yêu nước của người Việt Nam nhé!

Các em đồng thanh: Dạ, vâng ạ

Tôi và các em đứng nhìn theo cho đến khi cano của ông khuất dần theo dòng nước xanh thẳm của vịnh Vũng Rô. Một em quay sang tôi khẽ nói:

– Cô ơi, hôm nay con thấy tự hào quá cô ạ!

Tôi gật đầu:

– Các em thấy đấy, bầu trời bình yên mà chúng ta đang hít thở hôm nay không phải tự nhiên mà đến. Để có được sự bình yên này, thế hệ cha ông ta đã phải đổi bằng biết bao xương máu và nước mắt. Ông Thạnh bây giờ mái đầu đã bạc, sức lực đã vơi. Nhưng ngọn lửa yêu nước trong ông chưa bao giờ nguội tắt. Các em hãy tiếp nối và lan tỏa ngọn lửa ấy bằng cách học tập thật tốt, sống thật đẹp, để cùng nhau góp phần xây dựng Việt Nam ngày càng giàu mạnh, kiêu hãnh và tươi đẹp nhé!

Nhiều giọng nói vang lên:

– Dạ, chúng em hứa sẽ chăm ngoan, học giỏi ạ!

– Chúng em sẽ cố gắng để xứng đáng với các chú bộ đội!

– Chúng em sẽ yêu quê hương và giúp ích cho đất nước ạ!

Tôi nhìn các em, lòng chợt dâng lên một niềm tin ấm áp. Những “mầm xanh” ấy, rồi sẽ lớn lên, tiếp nối những ước mơ còn dang dở của thế hệ đi trước.

Chuyến đi khép lại nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng mãi trong lòng mỗi người. Với các em, đó không chỉ là một buổi trải nghiệm, mà là một bài học sống động về lịch sử, về lòng biết ơn và niềm tự hào dân tộc. Còn với tôi, đó là một hành trình gieo những hạt mầm yêu nước – lặng lẽ nhưng bền bỉ. Tôi tin rằng, từ những cảm xúc chân thành hôm nay, trong trái tim các em sẽ nhen lên những ước mơ đẹp, để mai này góp phần làm cho quê hương, đất nước ngày càng rạng rỡ hơn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn