Buồng tối trên chiếc ghe tam bản giữa Đồng Tháp Mười
Không có điện, thiếu nước ngọt và luôn bị truy kích, Mai Lộc cùng đồng đội vẫn quay, tráng và chiếu bộ phim chiến sự đầu tiên của điện ảnh cách mạng Việt Nam.
Đêm 24 tháng 12 năm 1948, bên bờ kênh Dương Văn Dương giữa Đồng Tháp Mười, hàng nghìn người tập trung quanh một hội trường lợp cỏ. Không có ghế đủ cho tất cả. Xuồng ba lá đậu ken đặc bên bờ kênh. Nhiều người tìm cách đứng sát vách để nhìn vào tấm màn chiếu.
Bộ phim họ sắp xem không được sản xuất tại Paris, Sài Gòn hay một trường quay có máy móc hiện đại. Nó được quay ngay trên chiến trường, tráng trong một chiếc ghe tam bản và in bằng thiết bị do những người làm phim tự cải tạo.
Tên bộ phim là Trận Mộc Hóa.
Một trong ba người trực tiếp cầm máy là Mai Lộc.
Trước Cách mạng Tháng Tám, Mai Lộc lớn lên ở Sài Gòn và say mê điện ảnh phương Tây. Ông cùng những người bạn như Khương Mễ và Vũ Sơn từng mơ ước người Việt Nam có thể tự làm phim. Nhưng nền sản xuất điện ảnh trong nước còn quá yếu, nhiều hãng phim tư nhân lần lượt thất bại và phương tiện kỹ thuật gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài.
Tháng Tám năm 1945 đã mở ra một con đường khác cho Mai Lộc. Ông rời Sài Gòn, mang theo máy ảnh đến với lực lượng kháng chiến tại Khu 8, địa bàn bao gồm một phần vùng Đồng Tháp Mười.
Ở đây, chiếc máy ảnh trở thành một phương tiện ghi chép chiến tranh. Mai Lộc chụp những đơn vị Vệ quốc đoàn, các trận đánh tại Vàm Nước Trong, Giồng Dứa và cảnh quân Pháp càn quét, sát hại dân thường.
Tháng 9 năm 1947, những bức ảnh được trưng bày tại chợ Thiên Hộ nhân dịp kỷ niệm hai năm Quốc khánh. Người dân và chiến sĩ kéo đến xem rất đông. Họ lần đầu được nhìn thấy hình ảnh cuộc chiến của chính mình, do một người Việt Nam đứng trong hàng ngũ kháng chiến ghi lại.
Cuộc triển lãm sau đó bị bom đánh trúng. Nhưng sức mạnh của những bức ảnh đã được lãnh đạo Khu 8 nhận ra.
Ngày 16 tháng 10 năm 1947, Tư lệnh Khu 8 Trần Văn Trà ký quyết định thành lập Tổ Nhiếp ảnh Vệ quốc đoàn Khu 8 tại Trại Lòn, xã Nhơn Ninh. Đơn vị sau đó phát triển thành Tổ Nhiếp ảnh – Điện ảnh. Mai Lộc làm tổ trưởng; Khương Mễ phụ trách kỹ thuật điện ảnh và Vũ Sơn phụ trách nhiếp ảnh.
Đó là một quyết định táo bạo. Điện ảnh là loại hình nghệ thuật phụ thuộc rất nhiều vào máy móc và hóa chất. Trong khi đó, Đồng Tháp Mười không có điện, nguồn nước phần lớn bị nhiễm phèn, khí hậu nóng ẩm và chiến sự diễn ra liên tục.
Chiếc máy quay đầu tiên Mai Lộc sử dụng là máy Kodak 16 mm được mua từ Sài Gòn rồi bí mật chuyển ra chiến khu.
Trong lần đầu đi quay một trận phục kích trên tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho, Mai Lộc cùng bộ đội hành quân từ đêm và ẩn nấp cách ga Tân Hiệp khoảng 600 mét. Khi đoàn tàu đi vào trận địa, ông nhô người lên khỏi mô đất, hướng máy quay về phía đường ray.
Một tiếng nổ lớn vang lên. Đoàn tàu trật khỏi đường ray, súng từ đồn Tân Hiệp lập tức bắn trả. Mai Lộc tiếp tục quay cho đến khi đơn vị ra lệnh rút lui.
Trên đường rút, một quả đạn pháo nổ gần đội hình. Mảnh đạn găm vào đùi khiến Mai Lộc rơi xuống mương cùng máy quay và túi phim. Người trung đội trưởng đi cùng phải cõng ông men theo những con đường nhỏ, tránh lực lượng truy kích đến tối mới về được quân y viện.
Mai Lộc sống sót, nhưng máy quay và cuộn phim đều bị ngâm nước. Những hình ảnh đầu tiên ấy không thể sử dụng.
Sau khi bình phục, ông lại cầm máy ra trận.
Tháng 8 năm 1948, Bộ Tư lệnh Khu 8 mở trận đánh đồn Mộc Hóa. Tổ Điện ảnh được chia thành ba nhóm: Khương Mễ quay khu vực đồn, Vũ Sơn ghi hình mặt trận đường thủy trên sông Vàm Cỏ Tây, còn Mai Lộc theo lực lượng chặn quân tiếp viện trên đường bộ.
Máy quay phim khác với máy ảnh. Người chụp ảnh chỉ cần nhô lên trong khoảnh khắc để bấm máy. Người quay phim phải giữ tư thế đủ lâu để ghi được chuyển động. Mỗi giây đứng lộ mình cũng làm tăng nguy cơ bị phát hiện.
Mai Lộc theo sát đội hình Tiểu đoàn 307. Ông ghi lại cảnh bộ đội xung phong, quân Pháp giẫm phải mìn, tù binh bị bắt và chiến lợi phẩm được thu giữ. Viên đồn trưởng Bertrand bị thương, đầu hàng trong tiếng máy quay chạy ngay bên cạnh.
Quay được phim mới chỉ là một nửa công việc. Cuộn phim âm bản phải được tráng ở nhiệt độ phù hợp, nếu quá nóng lớp nhũ tương có thể chảy và toàn bộ hình ảnh bị hỏng.
Những người làm phim đóng một chiếc hộp gỗ để chứa chậu hóa chất và guồng quấn phim. Họ đặt nước đá xung quanh, cố giữ nhiệt độ khoảng 18°C. Muốn có nước đá và hóa chất, cán bộ phải bí mật chèo ghe sang vùng đối phương kiểm soát để mua.
Một chiếc ghe tam bản được biến thành buồng tối di động. Chiếc ghe vừa giúp tổ làm phim tránh các cuộc truy kích, vừa đưa dụng cụ đến nơi có nước ngọt. Máy chiếu Kodak cũ được cải tạo thành máy in phim. Tất cả các công đoạn từ tráng, in, dựng đến làm chữ phim đều được thực hiện giữa vùng đồng nước không có điện.
Cuối cùng, Trận Mộc Hóa hoàn thành. Tác phẩm được xem là bộ phim tài liệu chiến sự đầu tiên do điện ảnh cách mạng Việt Nam sản xuất.
Đêm công chiếu bên kênh Dương Văn Dương trở thành một sự kiện chưa từng có. Trên màn ảnh, người dân nhìn thấy bộ đội của mình, những con đường và cánh đồng quen thuộc, trận đánh vừa diễn ra trên chính quê hương mình.
Khán giả chen chúc đến mức sáng hôm sau, hội trường chỉ còn lại hai mái; nhiều mảng vách và cửa đã bị tháo ra để người đứng ngoài có thể xem phim.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng kể rằng đến năm 1950, khi tình cờ được xem Trận Mộc Hóa, ông cảm thấy vô cùng kinh ngạc vì đó là phim do người Việt Nam làm và nhân vật trên màn ảnh cũng là những chiến sĩ Việt Nam. Kỹ thuật còn non trẻ, nhưng bộ phim có sức thuyết phục của sự thật.
Thành công của tác phẩm thúc đẩy việc thành lập thêm các tổ điện ảnh tại Khu 6, Khu 7 và Khu 9. Tổ Khu 8 tiếp tục sản xuất những phim như Trận La Bang, Chiến dịch Cầu Kè và Chiến dịch Trà Vinh.
Năm 1951, Mai Lộc được điều ra Việt Bắc tham gia xây dựng ngành điện ảnh kháng chiến. Năm 1963, ông trở lại miền Nam, góp phần thành lập Xưởng phim Giải Phóng và đào tạo một thế hệ làm phim mới. Ông còn thực hiện nhiều phim tài liệu, phim truyện và từng đảm nhiệm công tác quản lý điện ảnh.
Mai Lộc qua đời năm 2011.
Ngày nay, một bộ phim có thể được ghi bằng điện thoại, dựng trên máy tính và truyền đi trong vài giây. Vì thế, thật khó hình dung từng mét phim Trận Mộc Hóa đã phải đi qua bom đạn, nước phèn, một chiếc ghe tam bản và những chậu hóa chất được làm lạnh bằng nước đá mua từ vùng đối phương.
Mai Lộc và đồng đội không chỉ ghi lại một trận đánh. Họ chứng minh rằng ngay giữa chiến tranh, người Việt Nam có thể tự tạo ra hình ảnh chuyển động về lịch sử của mình. Từ buổi chiếu bên bờ kênh năm 1948, một nền điện ảnh đã bắt đầu bước đi bằng chính đôi chân của những người cầm máy trong bưng biền.



