Bài viết

CẢ NHÀ CÙNG LÀM CÁCH MẠNG

Ninh Bình21/04/2026Trần Công Khánh (Xã Yên Đồng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau bao năm tháng để tâm tìm kiếm, đến nay má mới tìm thấy mộ chồng lo

chu cất và quy tụ xong phần mộ của chồng cùng về với con ở nghĩa trang liệt sĩ địa

phương, má Phái mãn nguyện trở ra Hải Phòng - nơi má đang sống với người con

trai duy nhất còn lại trong gia đình.

Má Đinh Thị Phái quê ở xã Mỹ Tàm, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Gái

Bình Định có tiếng ngang tàng, mạnh mẽ như tính cách đàn ông. Má sớm giác ngộ

cách mạng và tham gia hoạt động trong các phong trào phụ nữ ngay từ những ngày

đầu kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, theo yêu cầu của tổ chức, vợ chồng má

đã gác tình riêng lo nhiệm vụ chung của cách mạng. Sau buổi lưu luyến tiễn đưa

chồng và con trai (lúc ấy mới 9 tuổi) ra Bắc tập kết, má gạt dòng nước mắt nhớ

nhung ở lại nuôi 3 con nhỏ, tiếp tục hoạt động. Chồng tập kết ra Bắc, gia đình má ở

miền Nam thuộc diện “đối tượng của quốc gia. Nhà cửa, tài sản của má bị tịch thu

chia cho “cán bộ quốc gia” ở. Má và các con, hai bàn tay trắng không cửa không

nhà. Thương hoàn cảnh của gia đình má, người anh chồng thu xếp cho má về ở

nhờ. Thấy có người giúp đỡ, kẻ địch bắt ông đi thủ tiêu để răn đe những người

khác. Thân má một mình phải đương đầu với bao sóng gió, khó khăn nhưng má

không hề nản. Má tự nhủ: phải tìm cách sống, nuôi con và tiếp tục hoạt động. Dân

làng biết má cực, má khổ, thương má lắm, nhưng chẳng ai dám gần, dám giúp đỡ.

Bữa cơm hàng ngày của gia đình má chỉ có củ mì, của khoai. Khó khăn vậy nhưng

má vẫn tiết kiệm từng đồng tiền bát gạo cùng mọi người tham gia mua công phiếu

ủng hộ cách mạng. Năm 1961, chồng má - ông Phan Trưng, tình nguyện trở về quê

hương chiến đấu. Lúc này má đang bị địch dồn đến trại tập trung. Má khát khao,

mong mỏi từng ngày được gặp lại chồng sau bao năm xa cách. Về quê hương hoạt

động, ông Phan Trưng, bị địch bắt. Chúng dùng mọi cực hình, tra tấn dã man

nhưng ông vẫn một mực: “việc nấy ông làm, nấy ông biết, việc tôi làm chỉ mình tôi

biết, hỏi làm chi”. Biết không khuất phục nổi ý chí kiên cường của người chiến sĩ

cộng sản, kẻ địch đã giết ông. Được tin chồng hy sinh, căm thù giặc càng chồng

chất, má tìm cách trốn trại tập trung. Bất chấp nguy hiểm, suốt hai ngày đêm ròng

rã, má dẫn ba con nhỏ cắt rừng, vượt suối tìm đường về quê.

Bằng giọng nói thật thà và khẳng khái của người dân miền Trung Nam bộ,

má kể lại rành mạch từng chuyện đã xảy ra trong những ngày đấu tranh ác liệt

nhất. Má nói:

- Lúc này địch càn dữ lắm, lòng người có kẻ ngược người xuôi. Nhưng

đường mình mình cứ đi, ai nói ngả nói nghiêng cũng mặc. Có những việc biết có

thể chết, chẳng ái dám làm nhưng tôi vẫn hăng. Làm tổ trưởng nhân dân tôi đứng

ra vận động bà con đấu tranh chống lập ấp, làm cán bộ nông hội tôi đứng lên chia

ruộng cho dân nghèo. Địch xuống hỏi, bà con tốt bụng trả lời “thấy ruộng bỏ,

chúng tôi làm chứ chẳng ai chia”. Nếu có kẻ xấu báo, chắc tôi chết chứ địch chẳng

để yên!

Năm 1967, khi đang tiếp tế cho du kích, má lại bị địch bắt. Chúng trói má lại,

treo ngược má lên như con ếch, đánh má chết đi sống lại nhiều lần. Có người nhìn

thấy cảnh vậy chịu không nổi phải thốt lên: “đánh vừa thôi, quá tay rớt dây rơi

xuống nó chết, mấy đứa nhỏ ai nuôi. Nhà cửa, tài sản của nó mình lấy hết rồi”. Nghe

má kể, tôi không thể tưởng tượng nổi, thân má nhỏ nhoi mà sao lại có sức chịu đựng

diệu kỳ. Bị địch đánh dã man, mang thương tật đầy người nhưng má không hề sợ.

Năm 1969, má lại bị địch bắt cầm tù 18 tháng. Ba lần bị tù, có lần má trốn trại, nó

không khép được vào tội gì buộc phải tha. Ra tù trở về má lại lao vào hoạt động. Có

người thấy cuộc đời má khổ đã thương: “Làm cách mạng được chi mà cả nhà phải

chịu cực”. Má thản nhiên trả lời: “Làm cách mạng cho dân, cho nước, toàn dân

hưởng, mình cũng được hưởng chứ không đâu”.

Sau bao năm vất vả một mình nuôi con, giờ dây các con của má đã khôn lớn.

Nhìn các con, má không thấy tủi vì mình đã làm tròn lời chồng dặn năm xưa: “Đất

nước còn giặc tôi phải đi đánh giặc, mình ở nhá ráng chịu khổ nuôi con”. Nhắc tới

chuyện ba, má thường khuyên nhủ các con: ba đã đi làm cách mạng, các con cũng

phải theo con đường cách mạng của ba. Năm 1966, người con trai thứ hai của má

Phan Ngọc Anh, xin má được lên đường đi đánh giặc. Má chẳng nhiều lời chỉ căn

dặn anh: đi gắng giữ gìn sức khỏe, công việc ở nhà con khỏi phải lo. Cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan. Năm 1973, giặc

Mỹ mở nhiều cuộc tấn công càn quét và dội bom xuống quê hương má, hai con của

má anh Phan Thành và chị Phan Thị Tâm cũng tham gia du kích địa phương.

Trong một trận chiến đấu ác liệt anh Phan Thành và chị Phan Thị Tâm đã anh dũng

hy sinh. Năm 1973, sau khi thực hiện trao trả tù binh, Phan Ngọc Anh được trở về.

Đau xót khi thấy hai em mình đã vĩnh viễn ra đi, anh lại tiếp tục cầm súng trả mối

thù nhà, nợ nước. Năm 1974 trong một chuyến đi công tác anh bị địch phục kích

bắn chết.

Chồng ngã xuống, ba con lần lượt hy sinh trên mảnh đất quê hương, bản

thân mình mang thương tật trên người. Bốn lần gánh chịu nỗi mất mát đau thương,

có nỗi đau nào hơn nỗi đau của má. Nhưng nỗi đau mất nước của cả dân tộc vẫn

còn đây, nỗi đau của gia đình má sao tránh khỏi. Chỉ có con đường đứng lên đấu

tranh để xóa đi nỗi đau đất nước, gia đình má và mọi gia đình mới hết mọi nỗi đau.

Ra Hải Phòng sống đã gần chục năm nay, bên các con, các cháu má thấy

khỏe và vui. Các anh ở quận Ngô Quyền ở phường Lạc Viên thường qua lại thăm

hỏi, động viên. Đã quen với đất lề quê thói, ra đây ở có lúc mà thấy nhớ quê hương

da diết. Nhưng Hải Phòng cũng là quê hương của má bởi nơi đây con, cháu của má

đã khôn lớn, trưởng thành. Cuộc đời của má Đinh Thị Phái là một tấm gương anh

hùng, là niềm tự hào của quê hương đất nước. Má mãi mãi là tấm gương sáng cho

thế hệ trẻ noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn