Các Chủ trương, Chính sách Lớn của Tỉnh ủy Trà Vinh Giai đoạn 1992-1993 (1)
Giai đoạn 1992-1993 là một thời kỳ mang tính bản lề, định hình cho chặng đường phát triển của tỉnh Trà Vinh sau khi được tái lập. Đối mặt với bối cảnh "còn nhiều khó khăn, thiếu thốn" như đã được báo cáo trong các buổi làm việc với Đại tướng Đoàn Khuê và Phó Thủ tướng Phan Văn Khải, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh đó, các chỉ thị, nghị quyết được ban hành không chỉ là những văn bản hành chính đơn thuần mà còn là những định hướng chiến lược, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị sâu sắc của Đảng bộ. Những văn kiện này đã đóng vai trò then chốt trong việc ổn định tình hình mọi mặt, từng bước tháo gỡ khó khăn, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, qua đó kiến tạo nền tảng chiến lược và định hình khuôn khổ pháp lý ban đầu cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh của tỉnh trong giai đoạn mới.
--------------------------------------------------------------------------------
1. Định hướng Phát triển Kinh tế - Xã hội Toàn diện
Ngay sau khi tái lập, nhiệm vụ hoạch định chính sách kinh tế - xã hội được xác định là trọng tâm, cấp bách nhất. Tỉnh ủy Trà Vinh đã nhanh chóng ban hành các nghị quyết mang tính chiến lược nhằm ổn định đời sống nhân dân, khai thác tiềm năng, lợi thế và tạo ra động lực tăng trưởng bền vững cho một tỉnh có xuất phát điểm còn nhiều thách thức.
1.1. Nghị quyết số 02-NQ/TU: Thiết lập Mục tiêu và Nhiệm vụ Trọng tâm năm 1993
Ban hành ngày 20/01/1993, Nghị quyết số 02-NQ/TU đã phác thảo một bức tranh toàn diện về các nhiệm vụ trọng yếu của tỉnh trong năm đầu tiên đi vào ổn định. Nghị quyết đã đề ra các mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể, thể hiện quyết tâm cao của Đảng bộ trong việc tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ.
• Mục tiêu chiến lược:
◦ Tạo sự chuyển biến kinh tế toàn diện trên cả lĩnh vực nông - ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, tập trung giải quyết các vấn đề cốt lõi như vốn, kỹ thuật, thủy lợi và thị trường.
◦ Xây dựng và quản lý ngân sách hiệu quả, đảm bảo thu đúng, thu đủ và triệt để tiết kiệm chi tiêu.
◦ Tạo tiến bộ rõ rệt trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế; thực hiện tốt chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong nhân dân.
◦ Giữ vững ổn định chính trị, tăng cường an ninh - quốc phòng, quyết liệt phòng chống tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội.
◦ Xây dựng hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở vững mạnh, chú trọng quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn cao.
• Chỉ tiêu định lượng:
◦ Tổng sản phẩm nội địa (GDP): Đạt 1.235 tỷ đồng (tăng 12,9% so với năm 1992).
◦ Sản lượng lương thực: Đạt 500.000 - 600.000 tấn.
◦ Sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Tăng 20 - 30%.
◦ Khai thác, nuôi trồng thủy sản: Tăng 10 - 15%.
◦ Kim ngạch xuất khẩu: Đạt 30,5 triệu USD.
◦ Tỷ lệ tăng dân số: Giữ ở mức 2,2%.
◦ Xây dựng Đảng: Phấn đấu 50% tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch, vững mạnh.
1.2. Nghị quyết số 03-NQ/TU: Tầm nhìn Chiến lược cho Nông nghiệp và Nông thôn
Để triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII), ngày 19/8/1993, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU, xác định tầm nhìn dài hạn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn đến năm 2000. Nghị quyết này khẳng định một định hướng chiến lược then chốt: sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, sản xuất lương thực là trọng tâm, và phát triển thủy sản là ngành mũi nhọn.
Các mục tiêu cụ thể được đề ra bao gồm:
• Phấn đấu tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội bình quân 8,90%/năm trong giai đoạn 1993-1995.
• Nâng thu nhập bình quân đầu người đến năm 1995 tăng 43,5% so với năm 1992.
• Xây dựng nông thôn mới với kinh tế phát triển, đời sống văn hóa phong phú, cơ sở hạ tầng được cải thiện và hệ thống chính trị vững mạnh, đặc biệt quan tâm đến vùng đồng bào dân tộc Khmer và các đối tượng chính sách.
1.3. Đầu tư cho các Lĩnh vực Xã hội và Cơ sở hạ tầng then chốt
Sự kiện khởi công Bệnh viện đa khoa tỉnh không chỉ là một dự án hạ tầng đơn thuần mà còn là một biểu tượng mang tính chính trị, khẳng định cam kết của Tỉnh ủy trong việc ưu tiên phát triển an sinh xã hội song song với tăng trưởng kinh tế. Công trình được khởi công vào ngày 22/3/1993 và được đánh giá là sẽ "mở ra bước ngoặt mới trên lĩnh vực y tế Trà Vinh".
• Quy mô: 400 giường bệnh.
• Diện tích: 3,6 ha.
• Tổng vốn đầu tư: 31,5 tỷ đồng (từ nguồn vốn Trung ương và tài trợ nước ngoài).
Bên cạnh đó, Tỉnh ủy còn thể hiện sự quan tâm đồng bộ đến các vấn đề xã hội thông qua việc ban hành Chương trình hành động số 02-CTr/TU (14/3/1993). Chương trình này nhằm triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương về văn hóa, văn nghệ, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình và công tác thanh niên, cho thấy một cách tiếp cận toàn diện, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển.
Các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời với nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng, tạo thành một thể thống nhất, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững.
2. Củng cố An ninh - Quốc phòng và Giữ vững Ổn định Chính trị
Đối với một tỉnh mới tái lập, có vị trí chiến lược và đặc điểm dân tộc, tôn giáo đa dạng, công tác an ninh - quốc phòng có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc giữ vững ổn định chính trị được xác định là điều kiện tiên quyết cho mọi nőt lực phát triển. Sự nhấn mạnh vào an ninh không chỉ mang tính phản ứng mà còn là một biện pháp chủ động nhằm kiến tạo một môi trường ổn định, an toàn, yếu tố thiết yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội tham vọng đã đề ra trong Nghị quyết 02-NQ/TU.
2.1. Nâng cao Ý thức Cảnh giác Cách mạng
Trong chuyến thăm và làm việc tại Trà Vinh vào tháng 12/1992, đồng chí Đoàn Khuê đã đặc biệt căn dặn Đảng bộ và lực lượng vũ trang tỉnh phải "luôn nâng cao ý thức cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động của các thế lực thù địch". Tinh thần chỉ đạo này đã được Tỉnh ủy quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa trong các văn bản chỉ đạo:
• Nghị quyết 02-NQ/TU xác định nhiệm vụ "giữ vững ổn định chính trị, tăng cường công tác an ninh, quốc phòng; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, buôn lậu".
• Chỉ thị 02-CT/TU yêu cầu các cấp, các ngành phải "chủ động đối phó, ngăn chặn bọn tình báo, gián điệp".
Những chỉ đạo này cho thấy sự nhận thức sâu sắc về các nguy cơ tiềm ẩn và quyết tâm không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
2.2. Xây dựng Thế trận Quốc phòng Toàn dân
Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân - dân, coi đây là nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân. Sự kiện đoàn công tác của Tỉnh ủy do đồng chí Trần Quang Thiện dẫn đầu đến thăm Tiểu đoàn 308 (ngày 18/5/1993) là một biểu hiện sinh động.
Trong đợt huấn luyện, bên cạnh nhiệm vụ chuyên môn, Tiểu đoàn 308 đã tích cực tham gia giúp đỡ địa phương, thể hiện tình quân dân gắn bó qua các hoạt động thiết thực như:
• Nạo vét các kênh thủy lợi nội đồng.
• Sửa chữa các tuyến giao thông nông thôn.
• Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao với thanh niên địa phương.
Phát biểu tại buổi gặp mặt, đồng chí Trần Quang Thiện đã bày tỏ mong muốn tiểu đoàn "tiếp tục có những hoạt động gắn bó với địa phương", khẳng định sự trân trọng của lãnh đạo tỉnh đối với những đóng góp của lực lượng vũ trang.
Công tác an ninh quốc phòng được triển khai hiệu quả nhờ dựa trên nền tảng vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân. Trong đó, thành công của các chính sách dân tộc và tôn giáo đã trực tiếp vô hiệu hóa các nguy cơ tiềm tàng, các điểm nóng có thể bị các thế lực thù địch lợi dụng, qua đó củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân từ gốc rễ.
3. Tăng cường Công tác Dân tộc - Tôn giáo và Xây dựng Khối Đại đoàn kết
Với đặc thù là tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer và đa dạng các tôn giáo, công tác dân tộc và tôn giáo có tầm quan trọng chiến lược tại Trà Vinh. Việc thực hiện tốt các chính sách này không chỉ thể hiện tính ưu việt của chế độ mà còn là nhân tố cốt lõi để củng cố khối đại đoàn kết, đảm bảo ổn định chính trị và tạo đồng thuận xã hội cho sự phát triển bền vững.
3.1. Chăm lo Toàn diện Đời sống và Phát triển Vùng đồng bào Dân tộc Khmer
Tỉnh ủy đã dành sự quan tâm đặc biệt và ban hành nhiều chủ trương, chính sách thiết thực đối với đồng bào Khmer, tiêu biểu là Chỉ thị số 02-CT/TU (10/02/1993) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TU. Các báo cáo sơ kết sau 1 năm (13/02/1993) và 2 năm (22/10/1993) đã ghi nhận những chuyển biến đáng kể:
• Đầu tư cơ sở hạ tầng:
◦ Trung ương đầu tư 2,6 tỷ đồng (năm 1992) để xây dựng các công trình.
◦ Nhiều công trình thủy lợi đầu mối, hệ thống điện lưới quốc gia được kéo đến các huyện lỵ, thị trấn.
◦ Một số tuyến hương lộ được xây dựng, nhiều giếng nước ngọt được lắp đặt để cải thiện đời sống.
• Phát triển kinh tế:
◦ Hỗ trợ vốn, giống để phát triển sản xuất.
◦ Số hộ khá tăng, nhiều gia đình đã mua sắm được máy móc nông nghiệp và phương tiện sinh hoạt gia đình (truyền hình, xe gắn máy, cassette...).
• Giáo dục - Y tế:
◦ Số lượng học sinh tốt nghiệp trung học và đại học tăng lên.
◦ Chương trình đào tạo song ngữ ngày càng phát triển.
◦ Cơ sở trường lớp được tu bổ, nâng cấp; hoạt động y tế cơ sở như tiêm chủng mở rộng được tăng cường.
• Văn hóa - Thông tin:
◦ Nhiều chùa Khmer được hỗ trợ xây dựng phòng đọc sách, trạm truyền thanh.
◦ Tỉnh đã phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin tổ chức Hội nghị về công tác văn hóa - thông tin vùng dân tộc Khmer Nam bộ (tháng 10/1993).
Không khí đoàn kết Kinh - Khmer được thể hiện rõ nét trong buổi họp mặt mừng Tết Chôl - Chnam - Thmây (09/4/1993). Tại đây, Chủ tịch UBND tỉnh đã có lời phát biểu chỉ đạo sâu sắc: “Đảng bộ quân, dân Kinh - Khmer tỉnh ta vốn có truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường, đã cùng nhau làm nên những thành tích vẻ vang trong kháng chiến cũng như trong hòa bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời gian qua. Ngày nay chúng ta cần phải phát huy tốt hơn nữa truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường khắc phục vượt mọi khó khăn thử thách, tập trung đẩy mạnh sản xuất, giữ vững ổn định tình hình các mặt làm cho đời sống đồng bào ta ngày càng ấm no hạnh phúc, văn minh”.
3.2. Quán triệt Chính sách Tôn giáo và Tăng cường Đối thoại
Tỉnh ủy đã chủ động tăng cường đối thoại, gặp gỡ với các chức sắc tôn giáo. Cuộc họp mặt với các vị linh mục, mục sư Công giáo và Tin lành nhân lễ Giáng sinh (23/12/1992) là một ví dụ điển hình. Tại đây, đồng chí Trần Quang Thiện cho rằng: Thành quả cách mạng đạt được có sự đóng góp của các tôn giáo và mong rằng các vị linh mục, mục sư, tu sĩ và bà con giáo dân tiếp tục đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cụ thể là đóng góp cho sự ổn định và phát triển của tỉnh nhà.
Để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị, ngày 17/5/1993, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/TU về công tác tôn giáo trong tình hình mới, với các yêu cầu cốt lõi:
• Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, văn hóa và nâng cao trình độ mọi mặt của đồng bào có đạo.
• Tôn trọng và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân.
• Hướng dẫn chức sắc các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật.
• Tăng cường cảnh giác, đấu tranh chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Để thực hiện thành công mọi chủ trương, chính sách trên các lĩnh vực, vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của hệ thống chính trị phải không ngừng được củng cố và tăng cường.
4. Tập trung Xây dựng Đảng và Hệ thống Chính trị Vững mạnh
Công tác xây dựng Đảng được xác định là "nhiệm vụ then chốt của then chốt". Trong bối cảnh một tỉnh mới tái lập với bộn bề công việc, việc xây dựng một bộ máy Đảng và chính quyền trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo không chỉ là một nhiệm vụ chính trị mà còn là cơ chế then chốt duy nhất có khả năng điều phối, chỉ đạo và đảm bảo việc triển khai đồng bộ, hiệu quả toàn bộ hệ thống chính sách đa dạng, phức tạp đã đề ra.
4.1. Đổi mới, Chỉnh đốn Đảng và Nâng cao Năng lực Lãnh đạo
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Chỉ thị 14 về tự phê bình và phê bình đã mang lại những kết quả tích cực, được đánh giá trong các hội nghị sơ kết của Tỉnh ủy (ngày 20/4/1993 và 12/5/1993).
• Về nhận thức: 96,5% đảng viên (9.625/9.974) đã tham gia học tập Nghị quyết, thể hiện sự nhất trí cao, lập trường quan điểm vững vàng hơn.
• Về tổ chức: Tăng cường đoàn kết nội bộ, chấn chỉnh lề lối làm việc, và kiện toàn các tổ chức đoàn thể ở cơ sở.
• Về chất lượng đảng viên: Số đảng viên yếu kém giảm dần, nhiều gương người tốt, việc tốt được phát huy và nêu gương học tập.
4.2. Tăng cường Công tác Vận động Phụ nữ và Phát triển Cán bộ Nữ
Tỉnh ủy đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến công tác phụ nữ thông qua việc sơ kết Chỉ thị 44-CT/TW (05/11/1993) và ban hành Kế hoạch 05-KH/TU (11/11/1993) để triển khai Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị.
• Kết quả đạt được: Trên 200 cán bộ nữ đã được cử đi đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ. Nội dung hoạt động của Hội Phụ nữ các cấp được đổi mới, thu hút hội viên tham gia.
• Chủ trương: Kế hoạch 05-KH/TU đề ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể: tiếp tục đổi mới công tác vận động phụ nữ; giao Ban Tổ chức và Hội Phụ nữ các cấp tham mưu cho cấp ủy rà soát, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ; chăm lo đời sống và quyền lợi của phụ nữ. Đặc biệt, kế hoạch nhấn mạnh vai trò của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy trong công tác tuyên truyền và yêu cầu quyết liệt đấu tranh đẩy lùi các tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến phẩm chất của phụ nữ như: "Mê tín dị đoan, mại dâm, văn hóa phẩm đồi truỵ, xì ke, ma túy".
4.3. Tăng cường Vai trò Lãnh đạo đối với Báo chí, Truyền thông
Nhận thức rõ vai trò của công tác tư tưởng, Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/TU (26/8/1993) nhằm nâng cao chất lượng báo chí, phát thanh, truyền hình. Chỉ thị khẳng định vai trò của báo chí là "cơ quan ngôn luận của Đảng bộ - chính quyền, là diễn đàn của Nhân dân". Báo chí có nhiệm vụ quan trọng trong việc định hướng dư luận xã hội, phát huy và nêu gương người tốt, việc tốt, đồng thời đấu tranh chống các luận điệu tuyên truyền sai trái và các hành vi tiêu cực, lạc hậu.
Các chủ trương trên các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, dân tộc, tôn giáo và xây dựng Đảng đã tạo thành một hệ thống chính sách đồng bộ, toàn diện, thể hiện rõ tư duy lãnh đạo chiến lược và năng lực tổ chức thực tiễn của Tỉnh ủy trong giai đoạn đầu tái lập.
--------------------------------------------------------------------------------
Phần Kết luận: Đánh giá Tổng quan
Giai đoạn 1992-1993 có thể được xem là giai đoạn đặt nền móng, thể hiện rõ năng lực lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Tỉnh ủy Trà Vinh. Vượt qua những bỡ ngỡ và khó khăn ban đầu của một tỉnh mới tái lập, Đảng bộ đã nhanh chóng ổn định tổ chức, ban hành một hệ thống các chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong thời kỳ này nổi bật với các đặc điểm:
• Tính toàn diện: Các nghị quyết, chỉ thị bao quát mọi lĩnh vực trọng yếu từ kinh tế, an ninh - quốc phòng đến văn hóa - xã hội, công tác dân tộc, tôn giáo và xây dựng hệ thống chính trị.
• Tính kịp thời: Tỉnh ủy đã nhanh chóng nắm bắt các vấn đề cấp bách, ban hành các văn bản chỉ đạo để giải quyết ngay những yêu cầu thực tiễn đặt ra.
• Tính nhân văn: Các chính sách luôn đặt con người vào vị trí trung tâm, đặc biệt là sự quan tâm sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo, phụ nữ và các đối tượng chính sách.
Những chủ trương, chính sách được ban hành và triển khai trong giai đoạn 1992-1993 không chỉ giải quyết các vấn đề trước mắt mà còn tạo ra tiền đề vững chắc cho sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trà Vinh trong những năm tiếp theo.



