Bài viết

Các cựu chiến binh Liên Xô kể về ký ức đáng tự hào ở Việt Nam

Hưng Yên06/01/2026đoàn xã Đông Hưng (đoàn xã Đông Hưng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong không khí náo nức kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ở quê nhà, thì tại Ukraine, thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Ukraine, các cựu chiến binh Liên Xô đang cư trú tại Ukraine, từng đóng vai trò chuyên gia quân sự tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh đã có những dòng hồi tưởng một thời đầy gian khó nhưng cũng rất đỗi tự hào.

1. Đã hơn 50 năm trôi qua, những cựu chiến binh Liên Xô vẫn mãi không thể quên được những ngày tháng đã sát cánh cùng người dân Việt Nam trong công cuộc Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để hồi tưởng lại một phần đời đầy gian khó nhưng cũng đáng để tự hào ấy. Người cựu chiến binh Valeriy Petrovych Miroshnychenko đã không khỏi bồi hồi xúc động. Ông vừa kể vừa lần giở từng bức ảnh kỷ niệm về quãng thời gian ở Việt Nam mà ông đã lưu giữ như báu vật trong suốt bao thập kỷ qua. Khi kể lại câu chuyện này, ông như một lần nữa được sống lại với quá khứ.Ông kể lại: "Nhóm chúng tôi, nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô đầu tiên về sử dụng pháo phòng không tự hành ZSU-23-4 Shilka, gồm 8 người, đến bằng chuyến bay dân sự của Aeroflot vào ngày 19-5-1972 tại sân bay quốc tế ở thủ đô Hà Nội. Chính Tư lệnh Phòng không - Không quân Việt Nam, Đại tá Lê Văn Tri đã trực tiếp đón tiếp chúng tôi. Qua đó, Bộ chỉ huy Việt Nam thể hiện sự tôn trọng đối với nhóm chúng tôi cũng như niềm hy vọng vào sự thành công trong việc sử dụng chiến đấu hệ thống phòng không mới ở Việt Nam.Các đồng chí Việt Nam ngay lập tức cảnh báo chúng tôi rằng việc ở lại trong khu vực sân bay quốc tế hiện giờ rất nguy hiểm vì các cuộc tấn công bằng bom và không kích của không quân Mỹ vào các mục tiêu ngay trong sân bay đang xảy ra thường xuyên hơn. Do vậy, sau buổi uống trà truyền thống ngắn, nhân tiện nói thêm, đó là lần đầu tiên chúng tôi thấy, uống trà xanh và cũng như nếm thử hương vị của đậu phộng, chúng tôi được đưa bằng xe buýt sản xuất tại Liên Xô đến khách sạn quân đội ở thành phố Hà Nội. Tuyến đường tránh đi quanh khu vực sân bay và chúng tôi chưa kịp đi xa khỏi đó thì xe buýt đột ngột dừng lại và chúng tôi được yêu cầu xuống xe, đi về phía các cánh đồng lúa".Lý do dừng xe nhanh chóng được xác định là từ phía mặt trời mọc xuất hiện một cặp máy bay Mỹ loại F-4C Phantom, bay sát gần chúng tôi, thực hiện một số đòn tấn công bằng tên lửa và thả bom. Trận chiến đấu bắt đầu. Mặt đất rung chuyển, mọi thứ xung quanh chúng tôi vang lên tiếng nổ, cháy rực và khu vực sân bay bị bao phủ bởi ngọn lửa. Khi chúng tôi tiếp tục hành trình trên xe buýt, bầu không khí trở nên yên tĩnh. Người Mỹ đã "thử lửa" chúng tôi ngay trong những phút đầu tiên sau khi đặt chân tới Việt Nam và khiến chúng tôi hiểu rằng mình sắp bước vào một công việc chiến đấu thực sự nghiêm túc.Nhóm của chúng tôi được bố trí sống tại một tỉnh miền núi, không xa Hà Nội, trong một tòa nhà bỏ hoang từng là trạm điện, không có cửa sổ hay cửa ra vào. Bên trong là những chiếc giường gỗ với màn chống muỗi. Bên cạnh giường là “máy điều hòa” duy nhất giúp chống chọi với cái nóng – một chiếc quạt bàn Kharkov sản xuất tại Ukraine.Phía dưới thung lũng có một giếng nước với vòi sen nước lạnh. Xung quanh tòa nhà là các khu vực đặt ăng-ten với những cột cao. Trên hai ngọn đồi có hai lô cốt còn sót lại từ thời Pháp thuộc. Chúng rất tiện lợi để làm hầm trú bom. Tường bê tông của chúng dày tới hơn 1,5m. Ban đầu, chúng tôi khá tin tưởng rằng các bức tường này không thể bị xuyên thủng – cho đến khi một quả bom phát nổ ngay bên cạnh một trong các lô cốt, khiến một nửa bức tường đổ sụp đổ. Lúc đó mới thấy rõ: Không có gì bảo vệ được nếu bị trúng trực tiếp.Khi tôi kể lại những điều kiện đó với các cựu binh trong các nhóm khác, họ nói rằng điều kiện của họ vẫn còn thoải mái hơn nhiều. Gần nơi chúng tôi đóng quân là một sân bay quân sự. Trận địa của tiểu đoàn pháo – tên lửa phòng không của chúng tôi cũng nằm gần đó. Vì vậy, chúng tôi thường xuyên bị tấn công bằng bom và hỏa lực từ máy bay.Năm 1972, lực lượng Phòng không- Không quân Việt Nam đã giành được ưu thế trên không, khiến không quân Mỹ phải chịu tổn thất nặng nề. Vào thời điểm đó, khoảng 4.000 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi trên bầu trời Việt Nam. Vì vậy, để có thể tiếp tục tấn công, không quân Mỹ buộc phải bay ở độ cao cực thấp. Tại độ cao này, hệ thống tên lửa phòng không S-75 trở nên hoàn toàn vô hiệu. Và chính ZSU-23-4 Shilka là khí tài cực kỳ phù hợp để giải quyết nhiệm vụ này. Vào thời điểm đó, đây là thiết bị khá hiện đại: Nó được trang bị radar, máy tính điều khiển hỏa lực, pháo bốn nòng và có khả năng bắn tự động với độ chính xác rất cao, ngay cả đối với các loại máy bay tốc độ lớn của địch.Tôi có mặt tại Việt Nam vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến. Giai đoạn này chính quyền Mỹ đã chuẩn bị sẵn sàng rút quân khỏi Việt Nam, nhưng trước khi rời đi họ sẽ không để lại bất cứ thứ gì. Và trên thực tế, họ bắt đầu thực hiện điều đó. Đặc biệt, các đợt ném bom dữ dội bắt đầu ngay từ đầu tháng 12-1972. Mỹ đã bắt đầu tiến hành các cuộc oanh tạc mạnh mẽ nhất nhằm vào các mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam – dữ dội nhất trong toàn bộ cuộc chiến.Khi đang công tác tại Hà Nội, tôi đã gặp đúng lúc đội hình chiến đấu của không quân Mỹ bay ngang qua để thực hiện một đợt tấn công quy mô lớn. Trên bầu trời có nhiều máy bay đến mức giống như các vì sao trên bầu trời đêm, không phải ngẫu nhiên mà cuộc không kích này được gọi là “cuộc oanh tạc sao trời”. Dẫn đầu đội hình là các máy bay gây nhiễu, chúng thả xuống một lượng lớn các thiết bị gây nhiễu thụ động đến mức không thể nhìn thấy bầu trời. Đội hình bay tiến rất chậm, giữ đúng thứ tự đội hình chiến đấu và âm thanh ù ù vang vọng một cách đe dọa. Dù các pháo phòng không đã bắn vào giữa đội hình, dù có máy bay bị bắn rơi, đội hình khổng lồ đó vẫn không bị phá vỡ. Không hiểu sao, tôi bỗng nghĩ đến một cuộc tấn công tâm lý. Lần này, thành phố Hà Nội đã may mắn vì đòn tấn công chính không nhằm vào trung tâm thành phố mà là các mục tiêu ở vùng ven Hà Nội.Thời điểm đó, các cuộc đàm phán hòa bình ba bên về chấm dứt chiến tranh Việt Nam được tổ chức tại Paris. Các cuộc đàm phán này có thể kéo dài trong vài ngày. Trong thời gian đó, chỉ có các máy bay trinh sát hoạt động. Chúng tôi tận dụng tối đa khoảng thời gian yên tĩnh này để huấn luyện chiến đấu và phối hợp tác chiến giữa các khẩu đội ZSU-23-4 Shilka.Ngay khi các cuộc đàm phán rơi vào bế tắc, không quân Mỹ lại tiến hành các cuộc không kích mạnh hơn, như thể để “bù” cho những ngày không đánh trước đó. Chúng tôi cảm nhận điều này rất rõ trên chính các mục tiêu mà chúng tôi đang bảo vệ.Cuối năm 1972, Mỹ thực hiện nỗ lực cuối cùng nhằm phá vỡ hệ thống phòng không của Việt Nam. Họ lên kế hoạch cho một chiến dịch không quân với mật danh “Linebacker II”, huy động hơn 700 máy bay tham gia... Mục tiêu của chiến dịch này là hoàn toàn vô hiệu hóa phòng không Việt Nam, hủy diệt triệt để nền kinh tế và dập tắt ý chí cũng như khát vọng kháng chiến của nhân dân Việt Nam.Tôi nhớ rất rõ sự kiện này, đặc biệt là thời điểm chiến dịch bắt đầu. Chiến dịch khởi động vào lúc 22 giờ ngày 18-12-1972. Đó là một cơn ác mộng thực sự... Không quân Mỹ tung ra những đợt tấn công mãnh liệt đến mức tưởng như mặt đất không thể chịu đựng nổi. Những quả tên lửa của quân đội Việt Nam bay lên bầu trời... Một trận chiến đấu dữ dội bắt đầu...Khi từ trên trời rơi xuống những quả cầu lửa với đuôi cháy dài, chúng tôi đã nghĩ rằng người Mỹ đang sử dụng một loại vũ khí mới chưa từng thấy. Chỉ đến sáng hôm sau chúng tôi mới biết rằng đó chính là những “pháo đài bay” – các máy bay ném bom chiến lược B-52 – đã bị bắn hạ. Người Mỹ hoàn toàn choáng váng. Ngày hôm sau, chỉ còn lác đác vài chiếc máy bay trinh sát xuất hiện.Nhờ vậy, chúng tôi có thể tới nơi chiếc B-52 gần nhất bị rơi. Máy bay này, dĩ nhiên, cực kỳ lớn và đầy ắp thiết bị điện tử. Thật ấn tượng. Chúng tôi rất vui mừng khi gỡ được vài tấm biển nhà máy từ thân máy bay để làm kỷ niệm.Chiến dịch này kéo dài đến ngày 31-12-1972. Trong hai tuần đó, đã có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Nhìn chung, chiến dịch này về sau có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc ký kết hiệp định hòa bình.Ngay từ khi bắt đầu hoạt động chiến đấu tại Việt Nam, chúng tôi luôn được bảo vệ bởi các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ cũng chính là những người nấu ăn cho chúng tôi. Đơn vị nhỏ này được gọi là “Bộ phận phục vụ”. Mỗi sĩ quan chuyên gia đều có một phiên dịch viên riêng. Phiên dịch viên của tôi là đồng chí Phong – luôn ở bên cạnh tôi.Nhiệm vụ của nhóm là huấn luyện lại cho các quân nhân Việt Nam về loại khí tài mới và thành lập một đơn vị phòng không chính quy có khả năng chiến đấu thực sự. Nhiệm vụ này đã được hoàn thành một cách thành công. Tư lệnh Phòng không- Không quân Việt Nam, Đại tá Lê Văn Tri đã đích thân gửi lời cảm ơn tới từng chuyên gia quân sự. Các cựu chiến binh Liên Xô kể về ký ức đáng tự hào ở Việt Nam

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn