Các cựu chiến binh tham gia trong trận Thành cổ Quảng Trị
Câu chuyện kể về 81 ngày đêm hoa lữa ở Thành cổ Quảng Trị. Đây là câu chuyện về một cuộc chiến đấu phi thường, một đợt tác chiến dài ngày nhất và quyết liệt nhất trong lịch sử phòng ngự đô thị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là 81 ngày đêm (từ 28-6-1972 đến 16-9-1972) mà ở đó, ý chí và lòng quả cảm của con người Việt Nam đã chiến thắng sự tàn phá hủy diệt của bom đạn tối tân nhất.
Đây là câu chuyện về một cuộc chiến đấu phi thường, một đợt tác chiến dài ngày nhất và quyết liệt nhất trong lịch sử phòng ngự đô thị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là 81 ngày đêm (từ 28-6-1972 đến 16-9-1972) mà ở đó, ý chí và lòng quả cảm của con người Việt Nam đã chiến thắng sự tàn phá hủy diệt của bom đạn tối tân nhất.
Lời Thề Tái Chiếm.
Quảng Trị, với vị trí là địa đầu của hai chiến tuyến, trở thành một tâm điểm quân sự, chính trị và ngoại giao đặc biệt. Sau khi để mất Quảng Trị vào tay quân ta trong Chiến dịch Xuân - Hè 1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã ra lệnh cho chính quyền Sài Gòn phải chiếm lại tỉnh này bằng mọi giá. Đây là nỗ lực cuối cùng nhằm cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang đứng trước nguy cơ sụp đổ.
Địch đã mở cuộc hành quân mang mật danh “Lam Sơn 72”. Lực lượng tham chiến là tổng lực lượng mạnh nhất mà Nguyễn Văn Thiệu có thể huy động: một sư đoàn dù, một sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, cùng với tổng cộng 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn. Không chỉ vậy, Mỹ còn tăng gấp đôi số máy bay ném bom chiến lược B52 và chi viện hỏa lực trực tiếp với mật độ và cường độ rất lớn.
Kỳ vọng của địch rất rõ ràng: nhanh chóng chiếm lại thị xã và cắm cờ lên Thành cổ trước ngày 10-7-1972 để gây sức ép lên phái đoàn ta tại Hội nghị Paris.
Trước hành động hung hăng của kẻ thù, Bộ Tư lệnh chiến dịch của ta đã hạ quyết tâm chiến lược vào tối 28-6-1972: Chuyển từ chiến dịch tiến công sang chiến dịch phản công nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững vùng giải phóng.
Trong khi các Sư đoàn 308, 304, 320B được bố trí ngăn chặn các hướng tiến công chiến lược của địch, một nhiệm vụ khẩn trương khác được thực hiện: sơ tán 8 vạn dân thị xã và hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng đến nơi an toàn. Lực lượng bảo vệ Thành cổ lúc đầu do Trung đoàn 48 đảm nhiệm là chính. Dù đại bộ phận chiến sĩ ta chưa thông thạo địa hình, nhưng lời thề “còn người còn trận địa, quyết tử bảo vệ quê hương” đã nung nấu trong lòng mỗi người lính.
81 Ngày Đêm Trong "Túi Bom"
Sáng sớm ngày 28-6-1972, cuộc phản kích Lam Sơn 72 chính thức bắt đầu. Đây là một cuộc hành binh đẫm máu, cực kỳ tàn bạo, nơi địch sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại như bom napan, bom lân tinh, bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiển bằng lade, pháo chơm, và cả chất độc hóa học.
Thị xã Quảng Trị, với diện tích gần 4km2, đặc biệt là Thành cổ, đã biến thành "một túi bom". Trong suốt 81 ngày đêm, nơi đây phải gánh chịu 328.000 tấn bom đạn. Báo chí phương Tây đã kinh hoàng bình luận rằng khối lượng bom đạn này tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ đã ném xuống Hiroshima. Tính bình quân, mỗi chiến sĩ ta phải gánh chịu 100 tấn bom, 200 quả đạn pháo. Có ngày, địch trút vào mảnh đất nhỏ hẹp này tới 13.000 quả đạn pháo (chưa kể bom từ máy bay).
Địch tiến quân với chiến thuật "chậm chắc": mỗi khi gặp quân ta, chúng dừng lại, gọi bom và pháo đánh dọn đường rồi mới tổ chức tiến công tiếp.
Mặc dù đối mặt với hỏa lực áp đảo, quân ta đã phát huy trí thông minh, tạo ra cách đánh phù hợp, không chịu phòng thủ thụ động mà liên tục cải thiện thế phòng thủ, vừa giữ chốt vừa xuất kích phản kích. Chính những trận đánh kiên cường của ta đã tạo ra “cái tốc độ rùa bò” của các lực lượng cơ động chiến lược hàng đầu của địch trên đường tiến từ sông Mỹ Chánh tới Thành cổ.
Ngay từ những ngày đầu, các chiến sĩ Trung đoàn 48 đã chiến đấu dũng cảm "1 chọi 100" đánh quỵ Lữ đoàn 2 dù. Dù thiếu thốn, có lúc phải sống bằng lương khô, nước lã, bắn dè xẻn từng viên đạn trong vòng vây địch, ý chí của bộ đội ta không hề suy giảm.
Sự Hy Sinh Trên Sông Thạch Hãn.
Từ đầu tháng 9-1972, cuộc chiến đấu càng trở nên ác liệt và bi tráng, diễn ra trong lòng thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Ta và địch giành nhau từng căn nhà, góc phố, từng mảng tường Thành cổ.
Thời tiết khắc nghiệt càng làm tăng thêm sự gian khổ. Áp thấp nhiệt đới liên tục xảy ra, nước sông Thạch Hãn dâng cao khiến cả thị xã chìm trong biển nước. Các chiến sĩ phải suốt ngày ngâm mình trong nước, vừa thay nhau tát nước chống ngập công sự, vừa chống trả địch. Sức khỏe giảm sút và thương vong rất lớn.
Trong trận địa nghiêng ngả vì bom đạn, các chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ, chốt giữ, mưu trí tiêu diệt sinh lực địch, kể cả những bộ phận nhỏ lẻ bí mật lẻn vào bằng đường hầm hòng cắm cờ trên Thành cổ. “Mỗi mét vuông đất mà các chiến sĩ ta giành được ở Thành Cổ Quảng Trị thực sự là một mét vuông máu”, trước tình thế khó khăn và sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ chiến lược, quân ta được lệnh rút lui sang sông Thạch Hãn vào 18 giờ, ngày 16-9-1972.
Trận chiến 81 ngày đêm đã khiến hơn 4.000 anh hùng liệt sĩ anh dũng nằm lại nơi Thành cổ. Xương máu của các anh đã hòa quyện vào gạch đá đổ nát. Họ là những con người đã bất chấp hiểm nguy, vượt sông Thạch Hãn, hết lớp người này đến lớp người khác ngã xuống, mãi mãi hy sinh ở tuổi đôi mươi.
Chân Lý Sáng Ngời
Mặc dù ta rút khỏi Thành cổ, nhưng cuộc chiến này đã hoàn thành nhiệm vụ chiến lược quan trọng. Trận đánh kéo dài gấp tám lần dự kiến ban đầu của Mỹ - ngụy, làm thất bại ý đồ nhanh chóng “tái chiếm Thành Cổ” của Mỹ - ngụy. Ta đã tiêu diệt hơn 24.000 tên địch, phần lớn là quân dù và thuỷ quân lục chiến.
Sự kiên cường bám trụ này đã phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ đấu tranh chính trị, ngoại giao, tác động trực tiếp đến Hội nghị Paris, buộc Mỹ phải nối lại đàm phán và ký kết Hiệp định Paris (27-1-1973).
Khi quân ta rút lui, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã điện khen: “Cán bộ, chiến sĩ ta rất dũng cảm, nhiệm vụ đã hoàn thành. Lịch sử chống ngoại xâm, giữ Thành lâu như thế, ông cha ta ít làm”.
Thắng lợi này là minh chứng cho tinh thần, nghị lực và ý chí chiến đấu sắt đá của con người Việt Nam. Sự hy sinh cao cả ấy đã làm sáng ngời chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã tôn vinh sự hy sinh của họ bằng những lời xúc động: “Chúng ta đã chịu đựng được không phải vì chúng ta là gang thép, vì gang thép cũng chảy với bom đạn của chúng. Mà chính chúng ta là những con người, những con người thật sự - những con người Việt Nam, với truyền thống 4.000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”.
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm oanh liệt, gắn với dòng sông Thạch Hãn đầy bi tráng, đã đi vào lịch sử như một huyền thoại và là bản hùng ca bất tử, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.



