Bài viết

CÁC ĐIỂM DI TÍCH NGOÀI TRỜI KHU DI TÍCH PÁC BÓ

Cao Bằng16/07/2026Ban Biên tập tổng hợp5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cao Bằng là một tỉnh miền núi, phía Đông Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Tuyên Quang, phía Nam giáp Thái Nguyên và Lạng Sơn. Cao Bằng có 333km đường biên giới với Trung Quốc. Hiện có 56 xã phường với nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống như Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Lô Lô… Điều này đã tạo nên nét văn hóa đa sắc tộc đặc trưng của Cao Bằng. Từ trung tâm tỉnh Cao Bằng theo tỉnh lộ 203 (đường Hồ Chí Minh) khoảng 50km ta tới Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó tại xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng.

Pác Bó theo tiếng địa phương là đầu nguồn hay miệng nguồn. Đây là cái nôi của cách mạng Việt Nam. Bởi lẽ địa danh này đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và TW Đảng Việt Nam từ năm 1941-1945.

Để thuận tiện cho nhu cầu tham quan, nghiên cứu, học tập của du khách, khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó được chia thành 3 phần:

- Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh

- Nhà trưng bày

- Các điểm di tích ngoài trời

Suối Lê Nin, núi Các Mác:

Dòng suối Lê Nin bắt nguồn từ chân núi, ngay dưới hang Cốc Bó uốn theo dãy Phja Tào chảy về làng Pác Bó. Trước đây, người dân gọi là suối Giàng hay dòng Trừng (Suối Trời). Ở suối Lê Nin có một loài cá đặc trưng tên là cá Liềng. Do đặc tính bơi hơi liệng liệng, khoe thân mình bạc trắng nên người dân địa phương gọi là Pja Liềng (cá Liềng). Nước suối Lê Nin khá lạnh nên chỉ có cá liềng, cá trầm xanh, cá dọn bể và một số loài cá suối khác sống được ở đây.

Dãy núi kéo dài từ khu vực Bó Bẩm đến hang Cốc Bó bao gồm 3 ngọn núi là: Phja Nà Táng, Phja Tào, Phja Nà Cọn. Sau khi về đây lập căn cứ cách mạng, để tưởng nhớ hai vị tiền bối cách mạng vô sản thế giới, Bác đã đổi tên cho dòng suối là suối Lê Nin, ngọn núi Phja Tào gọi là núi Các Mác. Trước cảnh núi rừng hùng vĩ, sơn thủy hữu tình, Bác đã sáng tác bài thơ “Pác Bó hùng vĩ”:

“Non xa xa nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lê Nin kia núi Mác

Hai tay xây dựng một sơn hà”

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chọn Pác Bó là nơi đầu tiên để trở về trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Đến ngày 4/5/1945, Bác cùng đoàn cán bộ rời Pác Bó đi Tân Trào, Tuyên Quang để tập trung quốc dân đại hội, phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng tháng Tám nổ ra và đã nhanh chóng giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho toàn thể nhân dân Việt Nam đọc Bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Dù công việc bận rộn nhưng năm 1961 Bác vẫn giành thời gian trở về thăm Pác Bó – quê hương thứ 2 của Người. Nhưng không ai biết, đây lại là chuyến về thăm Pác Bó cuối cùng của Bác. Năm 1969, khi nghe tin Người mãi mãi đi xa, người dân Pác Bó và nhân dân Hà Quảng không ai bảo ai đã mặc bộ quần áo đại tang ra ngã ba Khuổi Nặm tổ chức lễ truy điệu cho Bác. Theo quan niệm của người dân tộc Tày, Nùng, bộ quần áo đại tang chỉ mặc khi trong gia đình có cha hoặc mẹ mất. Khi Bác mất người dân mặc bộ quần áo đại tang tức là đã coi Bác như người cha trong gia đình. Trong lễ truy điệu, hai bên bờ suối từ khu vực Bó Bẩm đến ngã ba Khuổi Nặm trắng toát một màu áo tang, tất cả mọi người nhìn dòng nước chảy mà nước mắt tuôn rơi tiễn Bác về nơi vĩnh hằng. Sau phút mặc niệm, mỗi người xuống suối uống một ngụm nước để tưởng nhớ Bác và tự hứa với mình rằng người dân Pác Bó, nhân dân Hà Quảng nguyện đi theo con đường mà Bác đã lựa chọn.

Khu vực vành đai biên giới, vùng đệm giữa biên giới Việt – Trung, qua dãy núi vòng cung sang phía bên kia là địa phận Trung Quốc. Phía bên Việt Nam thuộc xóm Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng, bên địa phận Trung Quốc thuộc xã Thin Phòn, huyện Tịnh Tây, tỉnh Quảng Tây.

Dưới đỉnh núi cao nhất có vách trắng là nơi đặt cột mốc mang số hiệu 108 – nơi đã vinh dự được đón những bước chân đầu tiên của Bác trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước.

Lúc đầu Bác dự định về nước theo ba hướng: Lào Cai, Đồng Đăng – Lạng Sơn, Pác Bó – Cao Bằng.Cuối năm 1940, TW Đảng cử các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Thụ, Đặng Văn Cáp lên Cao Bằng kiểm tra tình hình cách mạng và liên lạc ra nước ngoài đón Bác trở về. Sau khi nghe đồng chí Hoàng Văn Thụ báo cáo về tình hình trong nước, đặc biệt là phong trào cách mạng ở Cao Bằng, với tầm nhìn chiến lược của một vị lãnh tụ thiên tài, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc với quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”. Từ nhận định quan trọng này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quyết định chọn Pác Bó, Cao Bằng là nơi đầu tiên trở về lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Vì núi rừng Pác Bó có địa thế hiểm yếu, nằm ngay sát biên giới Việt – Trung, có hơn 3.5km đường biên giới và là địa phương đã sớm có phong trào cách mạng.

Sau 30 năm bôn ba nước ngoài, kể từ ngày 05/06/1911 Bác rời Bến cảng Nhà Rồng đến ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng 5 đồng chí cán bộ cách mạng là Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đào Thế An, Hoàng Văn Lộc và Đặng Văn Cáp đã trèo đèo, lội suối, vượt qua cột mốc 108 trở về Tổ quốc. Trước cảnh quê hương đất nước, Người lặng đi vì thương cho nhân dân vẫn phải sống trong cảnh lầm than, nô lệ. Thi vị hóa cảm xúc ấy, sau này nhà thơ Tố Hữu đã có những vần thơ đầy xúc động:

“Ôi sáng xuân nay xuân 41

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về im lặng con chim hót

Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ

Bác đã về đây Tổ quốc ơi

Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người

Ba mươi năm ấy chân không nghỉ

Mà đến bây giờ mới tới nơi”

Hành trang trở về nước của Bác chỉ vẻn vẹn có một chiếc vali mây nhỏ, bên trông đựng một chiếc máy đánh chữ. Ngoài ra còn có một ít tài liệu và một ít tư trang của Bác. Đặc biệt, có một lá cờ đỏ sao vàng năm cánh. Lá cờ đỏ sao vàng sau này đã được Bác sử dụng trong Hội nghị TW Đảng lần thứ VIII diễn ra tại lán Khuổi Nặm, Pác Bó, Cao Bằng.

Trong thời gian hoạt động cách mạng tại Pác Bó, Bác thường xuống làng tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho quần chúng nhân dân. Bác cùng các đồng chí di chuyển dọc theo bên bờ suối, vô cùng khó khăn và vất vả. Sau này để thuận tiện cho việc tham quan của du khách, ban quản lý đã mở một con đường men theo chân núi, nhưng con đường này chỉ là con đường đất rải đá, rái sỏi. Năm 1994-1995, ban quản lý khu di tích đã trùng tu, cải tạo lại con đường, chính là con đường mà quý đoàn đang di chuyển.

Trước đây khu vực này cây cối um tùm, đường đi lối lại hiểm trở, cây lá han mọc rất nhiều (cây lá han là loại cây khi chạm vào lá sẽ rất ngứa và rát). Để đảm bảo bí mật, Bác cùng các đồng chí luôn đi một lối, về một lối, cố gắng giữ nguyên cảnh rừng hoang dã. Bác dặn các đồng chí không được phát cây rừng, đặc biệt là không được ngắt cây lá han. Chỗ nào nhiều lá han mọc quá thì Bác chỉ dùng gậy vạch sang hai bên mà lấy lối đi, đi đến đâu lá han khép kín đằng sau đến đấy, che lấp dấu vết con đường.

Di tích nơi Bác ngồi câu cá: Sau những giờ làm việc căng thẳng, Bác thường ra đây ngồi câu cá, vừa để thư giãn đầu óc, vừa để cải thiện bữa ăn đạm bạc hàng ngày. Vị trí trước đây Bác ngồi là ngay dưới gốc cây Si Trâu (Mạy rày vài). Tuy nhiên qua thời gian và biến thiên của thời tiết, cây si năm 1941 đã chết, cây si quý đoàn đang quan sát là một nhánh con của cây si năm 1941.

Vườn cây ăn quả Bác Hồ: được trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và ban quản lý khu di tích trồng phục hồi vào tháng 8/2013. Công trình thể hiện tấm lòng của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân Cao Bằng nói riêng và đặc biệt là giảng viên, sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Vườn cây ăn quả này được trồng đúng 30 cây, biểu trưng cho 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước của Bác. Trong vườn được trồng 4 loại cây mang 4 ý nghĩa tượng trưng khác nhau, đó là: cây bưởi dùng làm thuốc xông mỗi khi Bác ốm, cây ổi để Bác hái lá đun nước uống thay chè hàng ngày, cây xoài và cây vú sữa là hai loại cây đặc trưng của miền Nam nơi Bác ra đi tìm đường cứu nước và đặc biệt là để thể hiện tấm lòng của Bác luôn hướng về đồng bào miền Nam ruột thịt.

Di tích nhà ông Lý Quốc Súng: Ông Lý Quốc Súng là người dân tộc Choang, quê ở Lũng Nại, Tịnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc di cư sang Pác Bó làm ăn và sinh sống vào khoảng năm 1937. Gia đình ông có 3 người là 2 vợ chồng ông Súng và 1 cô con gái tên là Lý Máy Lỳ. Theo phong tục của người dân tộc địa phương, cha mẹ được gọi theo tên người con cả trong gia đình, nên ông Súng còn được gọi là ông Máy Lỳ.

Nhà của ông Súng ở ngay lưng chừng núi, phía trên hang Cốc Bó khoảng 100m. Nhà ông được dựng theo kiểu nửa nhà sàn, nửa nhà đất, chia làm 3 gian nhỏ hẹp. Gia đình ông Súng là một cơ sở cách mạng đáng tin cậy của đồng chí Hoàng Tô, Hoàng Sâm và Lê Quảng Ba. Nên ngay sau khi về nước, đồng chí Lê Quảng Ba đã dẫn Bác đến ở tại nhà ông Súng. Tại đây, Bác lấy tên là Ông Ké, những người đi cùng gọi là Bác.

Bác về nước đúng vào mùng 2 tết Tân Tỵ. Mùa xuân đầu tiên sau 30 năm xa cách, Bác đã cùng gia đình ông Súng đón cái tết cổ truyền trong không khí thân mật, ấm áp. Bên mâm cỗ tết có đầy đủ các loại thức ăn theo phong tục của người dân địa phương: bánh tét, bánh chít, thịt lợn, thịt gà, có cả thịt nai khô nướng và một hũ rượu thơm nức. Bác vô cùng xúc động, Người lặng đi, nét mặt đượm buồn. Trong niềm xúc động ấy có cả niềm vui của người con xa quê mới được trở về Tổ quốc. Bác động viên các đồng chí ăn khỏe, ăn thực lòng để chủ nhà vui.

Vào những năm 1942-1943, thực dân Pháp tiến hành khủng bố gắt gao, truy quét những người hoạt động cách mạng, nên gia đình ông Súng đã chuyển sang ở gần cột mốc 108. Đến cuối năm 1943, ông Súng qua đời. Năm 2019, ban quản lý khu di tích đã phục dựng lại di tích nhà ông Lý Quốc Súng.

Hang Cốc Bó: Theo tiếng địa phương, Cốc Bó nghĩa là đầu nguồn, là tên của hang Bác đã từng ở và làm việc, hang Cốc Bó tức là hang ở đầu nguồn nước. Còn Pác Bó nghĩa là miệng nguồn, là tên địa danh làng Pác Bó nói chung và cũng là tên của Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó.

Ở nhà ông Súng được khoảng 10 ngày, một hôm Bác gọi đồng chí Lê Quảng Ba ra nói nhỏ: “Nhà đồng bào đã nghèo, lại chật chội mà ta thì đông người, ở đây không tiện. Ta ra rừng thôi!”. Đồng chí Lê Quảng Ba đã hỏi ông Súng xem ở gần đây có cái hang nào không, thì được ông Súng chỉ cho hang Cốc Bó. Đây là cái hang bí mật, gia đình ông Súng thường đến lánh và cất giấu đồ đạc mỗi khi địch hoặc thổ phỉ đến càn. Sau đó, ông Súng dẫn Bác cùng các đồng chí đến xem hang Cốc Bó. Hang Cốc Bó là một cái hang kín đáo nằm sâu trong lòng núi đá vôi, bên ngoài cây cối um tùm che khuất, người lạ khó đoán biết được ở đây có một cái hang. Bác làm việc ở đây, nếu có động, có thể men theo đường phía sau lên núi khoảng 1km là sang đến địa phận Trung Quốc. Sau khi xem xét địa hình, địa thế hang Cốc Bó, Bác đã quyết định chuyển đến đây ở và làm việc từ ngày 8/2/1941.

Lòng hang khá nhỏ hẹp, sâu khoảng 20m, chỗ rộng nhất khoảng 7m. Nền hang có nhiều đá mấp mô, vì thế các đồng chí không thể để Bác nằm xuống dưới nền hang. Gia đình ông Súng đã mang xuống mấy tấm ván, ghép lại thành phản cho Bác nằm. Các đồng chí đã dùng lá cây mạy téc, rải lên phản để Bác nằm đỡ đau lưng. Lá mạy téc mềm mại và có đặc tính đắng nên có thể xua đuổi muỗi và côn trùng rất tốt.

Khi Bác chuyển về đây thời tiết đã sang xuân, nhưng cái lạnh của vùng biên giới vẫn như cắt da cắt thịt. Những đêm không ngủ được, Bác đã thức dậy đốt lửa sưởi cùng các đồng chí, vừa để nghiên cứu tài liệu vừa để xua đi cái lạnh của vùng biên cương Tổ quốc. Từ cửa hang vào khoảng 10m là vị trí bếp lửa.

Trong tập thơ “Theo chân Bác” nhà thơ Tố Hữu đã cảm nhận một cách sâu sắc về cuộc sống gian khổ, thiếu thốn của Bác:

“Hang lạnh nhớ tay Người đốt củi

Bập bùng lửa cháy suốt đêm thâu

Ai hay ngọn lửa trong hang núi

Mà sáng muôn lòng vạn kiếp sau”

Trên vách hang là dòng bút tích được Bác viết bằng chữ Hán với nội dung: “nhất cửu tứ nhất niên nhị nguyệt bát nhật”, tức ngày 8 tháng 2 năm 1941, đánh dấu ngày Bác chuyển về ở và làm việc tại hang này.

Thời gian Bác ở trong hang Cốc Bó không khí ẩm thấp, nhất là những ngày mưa, nước theo những khối nhũ đá nhỏ xuống nền hang. Các đồng chí đề nghị dựng một cái lán che mưa nhưng Bác gạt đi ngay, vì nếu có giặc đến, không kịp xóa dấu vết sẽ bị lộ. Những ngày mưa lớn, nước chảy lênh láng cả vào chỗ nằm của Bác. Bác chỉ dùng một cái cây ghếch lên làm máng, lựa cho giọt nước chảy đi chỗ khác.

Trong hang có một khối nhũ đá to đẹp, hao hao hình người. Trong những giờ phút rảnh rỗi, Bác đãtạc tượng Các Mác, để tưởng nhớ tới vị tiền bối cách mạng vô sản thế giới. Qua tác phẩm này, ta thấy Bác vừa là một nhà chính trị lỗi lạc, vừa là một người nghệ sĩ tài hoa.

Cuộc sống trong hang Cốc Bó của Bác đang dần đi vào ổn định thì một hôm có 2 đồng chí đi liên lạc cho đoàn thể bị giặc bắt được. Bằng sự nhanh trí, hai đồng chí đã thoát được nhưng thẻ thuế thân bị giữ lại, trên thẻ có ghi trú quán tại Pác Bó. Giặc nghi có cộng sản hoạt động tại Pác Bó nên đã dẫn quân vào lùng soát. Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, để đảm bảo bí mật, Bác đã quyết định chuyển đến ở và làm việc tại hang Lũng Lạn, gần cột mốc 108. Tuy nhiên điều kiện sinh hoạt tại hang Lũng lạn vô cùng khó khăn và thiếu thốn. Trước tình cảnh như vậy, Đoàn thể cứu quốc Pác Bó đã dựng cho bác một chiếc lán nhỏ bên bờ Khuổi Nặm. Cuối tháng 3/1941 Bác chuyển đến ở và làm việc tại lán Khuổi Nặm.

Những năm vừa qua, KDT vinh dự đón rất nhiều lượt khách trong và ngoài nước, nhưng có một vị khách đặc biệt đưa ra yêu cầu đặc biệt đã để lại ấn tượng sâu sắc. Đó là con trai cố tổng thống Mỹ John Kennedy đã đến thăm khu di tích vào năm 1997. Sau khi tham quan khu di tích và nơi ở của Bác, ông đã đề nghị được ngủ trong hang Cốc Bó một đêm để cảm nhận một phần cuộc sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước yêu cầu này, ban quản lý khu di tích đã không đồng ý và mời ông ngủ tại nhà khách cơ quan. Sau khi về Mỹ, ông đã nhận xét trên tờ Washington Post rằng: “Tôi nghĩ mãi vẫn không hiểu tại sao trong một cái hang nhỏ hẹp, tối tăm và ẩm thấp như vậy mà ông Hồ Chí Minh có thể nghĩ ra cả một kế hoạch lâu dài để giành lại đất nước”. Vâng bởi trong chính cái hang nhỏ hẹp, tối tăm và ẩm thấp ấy có một trái tim, một tâm hồn, một tư tưởng lớn. Vì vậy mà nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Những đêm ấy Bác thức cùng ngọn lửa

Thảo từng trang sử lớn cho đời”

Trong hang Cốc Bó không đủ điều kiện ánh sáng. Vì thế ban ngày Bác xuống làm việc tại bàn đá ở đầu nguồn suối Lê Nin, ban đêm Bác trở về hang nghỉ trên chiếc phản của gia đình ông Lý Quốc Súng mang xuống.

Vị trí bếp nấu ăn: ngay dưới gốc cây Mạy năng đăm (cây vỏ đen) chính là vị trí bếp nấu ăn cho Bác. Vào những ngày nắng ráo, Bác xuống khu vực đầu nguồn làm việc, đồng chí Hoàng Văn Lộc, là 1 trong 5 đồng chí về nước cùng Bác, đã xuống vị trí này lo cơm nước cho Bác.

Địa điểm cây ổi Bác thường hái lá đun nước uống thay chè hàng ngày sau những bữa cơm đạm bạc chỉ có cháo bẹ và rau rừng. Tuy nhiên, tuổi thọ của cây ổi thấp nên cây ổi năm 1941 đã chết, phần gốc cây đang được bảo quản tại Nhà trưng bày khu di tích. Cây ổi quý đoàn đang quan sát được ban quản lý khu di tích trồng đúng vào vị trí cây ổi năm 1941.

Di tích vườn trúc: sau thành công của Cách mạng tháng Tám, với cương vị là Chủ tịch nước, dùbận trăm công nghìn việc nhưng để động viên Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng, Bác đã dành thời gian trở lại thăm Cao Bằng từ ngày 19-21/02/1961. Trong 3 ngày này, Bác đã dành trọn ngày 20/02/1961 để về thăm Pác Bó. Sau lễ mít tinh tại khu ruộng Nà Chang, buổi trưa Bác dùng bữa cơm thân mật tại nhà cụ Dương Văn Đình, là nơi Bác thường đến gặp gỡ, tuyên truyền cách mạng cho quần chúng nhân dân trong thời kỳ hoạt động tại Pác Bó. Buổi chiều, Bác vào thăm khu vực đầu nguồn. Nhân dịp đầu xuân năm mới, nhân dân đã mời Bác trồng trúc lưu niệm. Theo quan niệm của người dân tộc Tày, Nùng địa phương, trúc là cây trường thọ, người dân mời Bác trồng trúc để tỏ lòng tôn kính và mong Bác sống lâu muôn tuổi, dìu dắt cháu con theo con đường Bác đã lựa chọn.

Đầu nguồn suối Lê Nin: tên gọi Pác Bó của làng Pác Bó cũng được bắt nguồn từ đây. Theo tiếng địa phương, Pác là miệng, là trăm; Bó là nguồn, là nước. Pác Bó có nghĩa là miệng nguồn, hàng trăm nguồn nước đều bắt nguồn từ đây.

Sau khi trồng xong khóm trúc lưu niệm, Bác đã xuống khu vực đầu nguồn suối Lê Nin rửa mặt, rửa tay. Bác cùng các đồng chí Tố Hữu, Nguyễn Khai, Lê Quảng Ba… cùng ngồi trên tảng đá đầu nguồn, nhớ lại 20 năm trước cuộc sống hoạt động cách mạng tại Pác Bó gian khổ ra sao. Chính trên tảng đá đầu nguồn ấy, Bác đã sáng tác bốn câu thơ:

“Hai mươi năm trước ở nơi này

Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây

Lãnh đạo toàn dân ta chiến đấu

Non song gấm vóc có ngày nay”

Qua đây, Người như muốn nhắc nhở thế hệ con cháu phải luôn khắc ghi đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam

Di tích bộ bàn ghế đá: Trong hang Cốc Bó ẩm thấp và không đủ điều kiện ánh sáng, nên Bác muốn tìm một nơi yên tĩnh, thoáng mát để làm việc. Bác cùng đồng chí Lê Quảng Ba xuống khu vực đầu nguồn, đi đến chân núi, ngay dưới gốc cây si có một vị trí khá bằng phẳng, Bác nói: “Ta làm việc ở đây các đồng chí à!”. Bác chọn làm việc ở đây vì có thể quan sát toàn bộ khu vực đầu nguồn, nếu có động có thể men theo đường lên núi khoảng 1km là sang đến địa phận Trung Quốc.

Sau khi đã tìm được vị trí làm việc cho Bác, có đồng chí đề nghị xuống nhà dân mượn một bộ bàn ghế, nhưng Bác không đồng ý, vì khi giặc đến đây rất dễ bị phát hiện. Các đồng chí lại có ý kiến chặt cây nhỡ nhỡ đóng xuống làm chân bàn, ghép các cành cây lại làm mặt bàn. Nhưng khi nhìn lại thì vị trí này toàn là đá, không thể đóng cọc được. Sau đó, Bác cùng các đồng chí đi tìm những hòn đá kê lại thành bộ bàn ghế cho Bác ngồi làm việc. Các đồng chí tìm thấy một hòn đá khá bằng phẳng để làm mặt bàn. Phải mất một buổi mới kê xong bộ bàn ghế. Sau khi kê xong, Bác ngồi lên ghế, hai khuỷu tay đặt lên mặt bàn, Người quay trái quay phải, mặt lộ rõ vẻ vừa ý, Bác nói: “Cái bàn chông chênh thế mà đúng là bàn thạch đấy các đồng chí ạ! Nước lũ cũng khó mà lật được nó”

Bộ bàn ghế được kê quay ra bờ suối Lê Nin, lưng tựa vách núi, sơn thủy hữu tình. Trên bộ bàn ghế đá đơn sơ, mộc mạc này, Bác đã làm việc rất miệt mài. Người đã lược dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô để làm tài liệu huấn luyện cho các cán bộ, chuẩn bị tài liệu cho Hội nghị TW Đảng lần thứ VIII và sáng tác các bài thơ ca tuyên truyền cách mạng.

Trong những ngày sống và làm việc tại Pác Bó, cuộc sống của Bác vô cùng khó khăn và gian khổ. Tuy nhiên, Bác vẫn luôn tin vào tương lai tươi sáng của cách mạng Việt Nam. Niềm tin ấy được Bác thể hiện qua bài thơ “Tức cảnh Pác Bó”:

“Sáng ra bời suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng, vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang”

“Bàn đá chông chênh” đã trở thành kỷ vật thiêng liêng gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng bí mật đầy khó khăn và gian khổ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1941-1945.

Cây kim giao lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp trồng năm 1975: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những người học trò xuất sắc của Bác, cũng là người từng hoạt động cách mạng với Bác tại Cao Bằng. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1975, Đại tướng đã trở lại Pác Bó để báo công với Bác và Đại tướng đã trồng một cây kim giao lưu niệm tại đây.

Hang Ngườm Vài: là nơi Bác đã trực tiếp kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương cho đồng chí Nông Thị Trưng vào ngày 06/12/1941. Hang rộng khoảng 80m2, lòng hang có những hố sâu. Đồng chí Nông Thị Trưng tên thật là Nông Thị Bày, là người con của huyện Hà Quảng – Cao Bằng. Cái tên Trưng là do Bác đặt, vì Bác muốn đồng chí noi theo gương bà Trưng, bà Triệu – những nữ anh hùng của dân tộc. Đồng chí Trưng đã có vinh dự được Bác dìu dắt trưởng thành. Cuối năm 1944, Bác tặng cho đồng chí một cuốn vở, bên trong có ghi 4 câu thơ:

“Vở này ta tặng cháu yêu ta

Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là

Mong cháu ra công mà học tập

Mai sau cháu giúp nước non nhà”

Không phụ lòng tin tưởng cúa Bác, sau này đồng chí trở thành Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Hang Lũng Lạn: là nơi Bác đã chuyển đến ở sau khi rời hang Cốc Bó vì có động. Nói là hang thôi, nhưng Lũng Lạn chỉ là một mái đá trống trải, mưa dầm gió sương đều có thể hắt đến. Vì điều kiện không đảm bảo nên cuối tháng 3/1941 Bác đã chuyển đến ở và làm việc tại lán Khuổi Nặm.

Nền nhà thứ 2 của gia đình ông Lý Quốc Súng: Do cuối năm 1942-1943, giặc Pháp khủng bố gắt gao, nên gia đình ông Súng đã chuyển lên đây sinh sống. Theo thời gian, ngôi nhà đã hư hỏng, hiện tại chỉ còn lại phần nền và được cắm biển di tích.

Cột mốc 108: được làm bằng đá nguyên khối, mặt sau giữ nguyên phần đá tự nhiên, mặt trước khá bằng phẳng, hướng về phía Việt Nam, ở giữa có ghi dòng chữ tiếng Pháp, dịch ra có nghĩa là: Biên giới, Trung Hoa, An Nam, số 108. Hai bên là hai dòng chữ Hán:

Bên trái viết: Đức nghiệp kha tây tự nhất bách linh bát (sự nghiệp, công sức mở mang bờ cõi phía Tây số 108)

Bên phải viết: Trung Quốc Quảng Tây giới (Biên giới Quảng Tây, Trung Quốc)

Cột mốc 108 là 1 trong 314 cột mốc biên giới Việt – Trung. Được xác lập vào năm 1887 theo Công ước hoạch định mốc biên giới, ký kết giữa Triều đình Mãn Thanh và Chính quyền Pháp tại Đông Dương. Năm 2001, Việt Nam và Trung Quốc hoạch định phân giới cắm mốc lại, bên cạnh cột mốc 108 là cột mốc mới mang số hiệu 675. Cột mốc 675 mang ý nghĩa về mặt pháp lý, cột mốc 108 mang ý nghĩa về mặt lịch sử.

Hang Slí Điếng: cuối tháng 3/1941 Bác chuyển đến ở tại lán Khuổi Nặm, hang Slí Điếng được dùng làm hòm thư liên lạc của Bác. Hang Slí Điếng là một vòm hang trên cao, trước đây có một cây si để bám vào mỗi khi leo lên.

Hang Diêm Tiêu: nơi cất giấu tài liệu bí mật của Bác trong thời kỳ hoạt động cách mạng tại Pác Bó. Hang Diêm Tiêu hiện còn nguyên hiện trạng, cửa hang hẹp, bậc trèo lên khá cao, lòng hang tối và có những hố sâu.

Di tích vườn rau cải: Trong thời gian hoạt động tại Khuổi Nặm, Bác cùng các đồng chí đã trồng một vườn rau để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Trong lúc rau đang độ xanh tốt, một hôm nhận được tin báo có giặc đến càn, Bác cùng các đồng chí đã nhanh chóng thu dọn tài liệu và xóa hết dầu vết. Xong xuôi Bác và các đồng chí nghỉ ngơi, đến đêm Bác đánh thức các đồng chí và bảo: “Chúng ta đã xóa hết dấu vết, nhưng còn một việc chúng ta chưa xóa. Rau ta trồng lên luống và mở hốc không giống với tập quán của bà con địa phương, như vậy giặc sẽ nghi ngờ có người lạ đến đây”. Sau đó, Bác cùng các đồng chí cuốc hết vườn rau và bảo: “rau chúng ta sẽ trồng lại được, nhưng lộ bí mật thì khó lắm”.

Cũng trong thời gian ở đây, một hôm đồng chí Bảo An về thăm nhà được gia đình biếu một con gà trống. Thấy con gà đẹp, các đồng chí xin Bác giữ lại nuôi, Bác bảo: “Chúng ta còn chưa đủ ăn, các chú định lấy gì nuôi gà”. Các đồng chí nói sẽ bắt sâu bọ cho gà ăn. Được một thời gian, con gà gáy nhiều quá, không đảm bảo bí mật. Đồng chí Bảo An đề nghị thịt gà, Bác bảo nên thịt vào ngày thứ 7 vì chiều thứ 7 có các đồng chí đi công tác ở cơ sở về. Bác đồng ý cho nấu tươi bộ lòng, phần còn lại thì đem băm nhỏ trộn với thật nhiều muối và ớt khô để dành cho những bữa sau. Món ăn đó đã trở thành món ăn chiến lược và được gọi là món thịt Việt Minh.

Qua 2 câu chuyện, ta thấy cuộc sống của Bác và các đồng chí trong những năm đầu hoạt động cách mạng vô cùng khó khăn và thiếu thốn. Dù vậy Bác luôn căn dặn các đống chí sống lành mạnh và thực hành tiết kiệm.

Di tích nơi Bác tập thể dục: Dù bận trăm công nghìn việc, nhưng Bác vẫn luôn giữ nếp sống điều độ. Hàng ngày khi trời còn mờ sương, Bác đã thức dậy thu dọn chăn màn và tập thể dục. Đối với Bác leo núi không chỉ để rèn luyện sức khỏe, mà trong khi leo núi Bác còn khảo sát địa hình xung quanh.

Lán Khuổi Nặm I: Do điều kiện tại hang Lũng Lạn vô cùng thiếu thốn và để đảm bảo bí mật, cuối tháng 3/1941 Bác cùng các đồng chí đã chuyển đến ở và làm việc tại lán Khuổi Nặm I.

Lán được dựng bên bờ Khuổi Nặm nên lấy tên theo dòng suối, Khuổi Nặm có nghĩa là suối nước. Thời điểm đó, để đảm bảo an toàn, men theo dòng Khuổi Nặm các đồng chí đã dựng thêm 2 lán nữa vào sâu hơn gọi là lán Khuổi Nặm II và lán Khuổi Nặm III.

Địa thế lán Khuổi Nặm I rất thuận lợi, nằm ngay cửa rừng, có cây che khuất. Từ ngoài nhìn vào không thể phát hiện được, nhưng từ bên trong quan sát ra rất rõ. Khi có động có thể ngược lên núi tới mốc 109, sang Trung Quốc an toàn.

Lán được dựng theo kiểu nhà sàn dân tộc, chia làm hai làm hai gian nhỏ khoảng 12m2, mái lợp bằng gianh, vách ken dày bằng lá cáp tao, hai đầu hồi đều có cửa sổ để lấy ánh sáng và quan sát tình hình bên ngoài. Trước đây, phía trước lán có một cây vàng anh (mạy mạ) hai bên là hai cây dâu da (mác phầy). Cây mạy mạ có một cành cong dài treo trên mặt suối, các đồng chí đã khéo léo làm một chiếc võng cho Bác nghỉ ngơi.

Tại lán Khuổi Nặm I, với tư cách là đại diện Quốc tế Cộng sản, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị TW Đảng lần thứ VIII diễn ra từ ngày 10-19/5/1941. Số đại biểu được mời tham dự là 15 đồng chí, tuy nhiên do điều kiện khách quan, chỉ có 9 đồng chí đến dự.

Đại diện quốc tế cộng sản: Đồng chí Nguyễn Ái Quốc

Đại diện Bắc Kỳ có 4 đồng chí:

- Trường Chinh

- Hoàng Văn Thụ

- Hoàng Quốc Việt

- Nguyễn Thành Diên

Đại diện Trung Kỳ có 2 đồng chí:

- Bùi San

- Hồ Xuân Lưu

Đại diện ban chỉ đạo hải ngoại có 3 đồng chí:

- Phùng Chí Kiên

- Vũ Anh

- Trần Đăng Ninh (trên đường đi dự Hội nghị bị ốm nên phải quay về)

Hội nghị đã thống nhất hoàn chỉnh đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh). Kết thúc hội nghị đã bầu ra Ban chấp hành TW Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh là Tổng Bí thư, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ nhiệm Tổng bộ Việt Minh.

Di tích bếp ăn: Ngay trước cửa lán Khuổi Nặm là bếp ăn phục vụ các đồng chí tham gia Hội nghị TW Đảng lần thứ VIII từ 10-19/5/1941.

Lám Khuổi Nặm II: Từ lán Khuổi Nặm I, ngược dòng Khuổi Nặm khoảng 100m là đến lán Khuổi Nặm II. Lán dược dựng theo kiểu nhà sàn dân tộc như lán I, lưng tựa núi, trước mặt là một khoảng đất bằng phẳng, phía trên được cây rừng che kín. Đây là nơi ở của các đồng chí và đặc biệt là các đồng chí đến dự Hội nghị TW Đảng lần thứ VIII.

Lán Khuổi Nặm II là nơi xuất bản tờ báo Việt Nam độc lập số đầu tiên vào ngày 1/8/1941, lấy số hiệu là 101 để đảm bảo bí mật. Báo ra mỗi tháng 3 kỳ vào các ngày 1, 11, 21, mỗi kỳ ra 400 số. Bác là người trực tiếp biên soạn nội dung, các đồng chí Bảo An, Thế An chịu trách nhiệm in báo. Tờ báo Việt Nam độc lập là cơ quan ngôn luận chính thức của Mặt trận Việt Minh.

Lán Khuổi nặm III: Từ lán II tiếp tục ngược dòng Khuổi Nặm khoảng 200m là đến lán Khuổi Nặm III, hay còn gọi là lán Cốc Chủ. Đây là nơi Bác thường đến lánh khi có giặc đến càn. Để lên được lán III phải vượt qua 2 thác cao, leo theo thang dây thả xuống. So với với lán I và lán II thì lán III nhỏ hẹp hơn, chia làm 2 gian, 1 gian để ở, 1 gian làm bếp nấu ăn.

Cuối tháng 3/1942 phong trào cách mạng đã tương đối ổn định ở Pác Bó, Người phát triển căn cứ cách mạng về Lam Sơn – Hòa An và Minh Tâm – Nguyên Bình.

Tháng 8/1942, Bác trở lại Pác Bó, ở tại lán Khuổi Nặm III, lấy tên là Hồ Chí Minh, chờ ngày sang Trung Quốc gặp gỡ với lực lượng đồng minh và lực lượng cách mạng người Việt Nam để trao đổi về thời cuộc.

Như vậy, lán Khuổi Nặm là nơi diễn ra những sự kiện lịch sử hết sức quan trọng đối với TW Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua thời gian, cả 3 lán đều đã xuống cấp. Năm 1970, lán Khuổi Nặm I được khôi phục. Năn 1993, để đảm bảo độ bền của di tích, lán I được tôn tạo, bê tông hóa các phần di tích tiếp đất như cột, dầm, sàn. Trận lũ lịch sử năm 2018 đã cuốn trôi hoàn toàn lán I. Năm 2019, ban quản lý khu di tích đã phục dựng lại lán Khuổi Nặm I.

Sau khi tham quan, tìm hiểu Khu Di tích, chúng ta hiểu sâu sắc hơn thời kỳ hoạt động cách mạng bí mật, đầy khó khăn, gian khổ của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1941-1945. Với những giá trị to lớn vềlịch sử và văn hóa, 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định công nhận Pác Bó là Khu di tích Quốc gia đặc biệt. KDT Quốc gia đặc biệt Pác Bó giờ đây đã trở thành địa chỉ đỏ, nơi dâng hương về nguồn, nơi giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng cho các thế hệ người Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn