Bài viết

CÁC NHÂN VẬT ĐI QUA THỜI KỲ KHÓ KHĂN ĐỂ XÂY DỰNG CUỘC SỐNG MỚI

Ninh Bình29/04/2026Tạ Thị Tâm (Chi đoàn trường THCS Gia Phong)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mỗi một tác phẩm văn học ra đời là một mạch nước trong trẻo khơi nguồn cảm hứng, làm động đậy những dòng cảm xúc trong đầu bạn đọc. Đôi khi những tác phẩm đó cũng là tiếng nói thay trong lòng độc giả. Văn chương do chúng ta làm ra; là chúng ta sáng tạo ra để trao tặng cho nhau. Những tác phẩm văn chương ấy không hề bị chi phối , gượng ép bởi một luật định nào để bắt chúng ta đón nhận cả mà mặc nhiên những dòng cảm xúc, những u uất hay những khát vọng thầm kín của riêng ta không nói ra mà mặc nhiên vô thức những dòng tâm sự ấy như được tác giả thẩm thấu; chắt lọc vào trong văn chương. Có những tác phẩm đọc xong thấy bình dị, gần gũi, có đ. Trong dòng chảy văn học, từ văn học dân gian đến văn học hiện đại không một tác phẩm nào lại không ẩn chứa triết lý nhân sinh. Nghiên cứu tác phẩm văn học nếu thiếu đi nền tảng triết học cơ bản thì sẽ chỉ tìm hiểu được tác phẩm một cách hời hợt bên ngoài, nó thiếu đi chiều sâu tư tưởng và sẽ không đào sâu tìm hiểu được về “cái ý” mà tác giả muốn nói trong tác phẩm.

Bước chân tới mảnh đất tài hoa của các nghệ sĩ - các tác giả của tác phẩm văn chương thì Nguyễn Khải được nhận ra như một vị khách khá đặc biệt. Nguyễn Khải là cây bút tiêu biểu, là một trong số những nhà văn có sức sáng tạo đặc biệt trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp. Với bảy mươi năm tuổi đời, hơn hai mươi năm cầm bút nhà văn Nguyễn Khải đã có một lượng khá lớn tác phẩm phản ánh được những nhiệm vụ cơ bản của mỗi giai đoạn Cách mạng; những bước phát triển mới của đất nước. Ông luôn là cây bút nhanh nhạy trong việc khám phá những vấn đề cơ bản của đời sống. Ông hướng ngòi bút vào những vấn đề thế sự nóng hổi; vừa có tầm thời sự; những vấn đề mang tính triết lý; đạo đức; tôn giáo. Lời lẽ trong văn Nguyễn Khải đạt đến chiều sâu triết học.

Với năng lực quan sát và óc phê phán sắc sảo, tài tình.Với cách nói gần gũi, bình dị, thân thuộc của cuộc sống hàng ngày, ông đã gửi gắm một kinh nghiệm sống, các bài học làm người trong những câu truyện ngắn chứa đựng giá trị nhân văn. Nguyễn Khải cho ra đời các tác phẩm với những vấn đề thiết yếu của cuộc sống mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc; tiêu biểu là tác phẩm “Mùa lạc”. “Mùa lạc” là sáng tác được nhà văn xây dựng nhân vật với những quan niệm của con người về cuộc sống; nói về những tâm tư, tình cảm; những ước mơ; khát vọng lý tưởng sống của con người bước đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Ở tác phẩm “Mùa lạc”, Nguyễn Khải không những phản ánh phong trào thi đua, những khó khăn, vất vả, nỗ lực sáng tạo của con người lao động mà còn nói về sự quyết tâm của con người; ý thức tập thể; sự quan tâm của con người lẫn nhau trong lao động sản xuất và đặc biệt là sự hồi sinh trong tâm hồn con người; của những mảnh đời bất hạnh được hồi sinh trong lao động và trong tình người nhân ái.Nguyễn Khải khai thác tâm trạng nhân vật nhạy cảm với những mối quan hệ con người với con người (tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình) những tâm tư tình cảm; nhận thức khác nhau của con người. Nhà văn đã cho rằng bản chất con người là phức tạp; đời sống bên con người là “ngoắt nghéo” và cuộc đời con người là chuỗi mắt xích vô tận những nghịch lý; những ngẫu nhiên bất ngờ. Các sáng tác của Nguyễn Khải ta có thể bắt gặp nhiều nhân vật là những con người lý tưởng nhưng vấn đề Nguyễn Khải làm toát lên là phục chế tâm hồn con người, cách sống của họ thế nào.

Con người trong các tác phẩm của Nguyễn Khải được tự trải nghiệm; suy ngẫm; tự lý giải và có đời sống tư tưởng phong phú. Do kết cấu truyện của Nguyễn Khải theo hướng mở nên nhiều khi tác giả nói về cái hôm qua, cái ngày xưa nhưng vẫn là vấn đề của hôm nay mang đậm triết lý nhân sinh sâu sắc.Như vậy, tư tưởng triết lý nhân sinh của Nguyễn Khải là phát huy nội lực giá trị trong con người.Đó chính là những lý do, tác giả mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Triết lý nhân sinh trong “ Mùa lạc”của Nguyễn Khải”.

Truyện ngắn Mùa lạc của nhà văn Nguyễn Khải đã phản ánh công cuộc đổi mới xã hội ở vùng đất sau chiến tranh, phản ánh cảnh sống con người trên nông trường Điện Biên. Và nhân vật chính trong câu chuyện về sự hồi sinh cuộc sống chiến tranh ấy là Đào. Trước đó, cô có một cuộc sống không mấy hạnh phúc gặp nhiều đau buồn. Cô lấy chồng từ năm 17 tuổi nhưng người chồng lại cờ bạc, rượu chè. Anh ta bỏ đi và để lại cho chị những món nợ nần chồng chất. Khi anh ta trở về, hai người ăn ở lại với nhau và có được cậu con trai. Khi đứa con trai vừa lên hai tuổi thì cũng là lúc chồng chị chết. Vài tháng sau đứa con lên sài bỏ lại chị một mình. Thế là từ đó chị đã không còn gia đình nữa. Chị đi lang thang khắp nơi với bao nhiêu khó khăn vật chất và đau đớn về mặt tinh thần. Có lúc nhìn ngọn đèn dầu lại sực nhớ tới trước đây mình cũng có một gia đình, có một đứa con... Thế mà giờ đây bốn bể là nhà chỉ lo cho thân mình sao được ngày hai bữa chân cứng đá mềm. Chị ghen tị với mọi người, chị hờn giận bởi chính bản thân mình. Đào là một người phụ nữ có vẻ bề ngoài không được đẹp với mái tóc óng đã khô lại, đỏ đi như chết, hàm răng phai không buồn nhuộm. Chị lên nông trường Điện Biên với một tâm lí muốn tìm nơi để quên đi cuộc đời đau thương. Tại nơi này, chị đã gặp đã trở nên thân quen với rất nhiều người bạn mới như Duệ, Lâm, Dịu... Lên đến Điện Biên, cuộc đời của chị đã được thay đổi. Chị tìm lại được chút niềm vui trong lao động, niềm vui với bạn bè xung quanh. Thế nhưng trong chị vẫn mang một tâm lí mặc cảm tự ti, mặc cảm rằng về ngoại hình của bản thân, mặc cảm về số phận hẩm hiu. Chính những cái mặc cảm ấy đã khiến cô dùng thứ vũ khí duy nhất mình có được là ngôn ngữ để tự vệ. Thời gian đầu lên nông trường Điện Biên, số phận và tâm lí Đào đã bước đầu thay đổi. Chị không còn tâm lí buông trôi cho số kiếp, chị biết kiêu hãnh, biết sống vì phần tốt đẹp bên trong của mình. Thời gian Đào thật sự hòa nhập với cuộc sống nông trường. Đến đây, cảm hứng về sự hồi sinh của cuộc sống sau chiến tranh mới được nhận thấy một cách rõ ràng, đầy đủ. Sự hồi sinh của chị Đào không chỉ là sự hồi sinh về của cải vật chất mà còn là sự hồi sinh về tình cảm. Bằng sự chân thật của Huân, Đào thích được ở gần Huân, thích được làm việc cùng Huân, muốn được nói chuyện, tâm sự với Huân. Và sự hồi sinh ấy càng lúc càng mãnh liệt hơn kể từ khi cô nhận được bức thư tỏ tình từ thiếu úy Dịu. Đào không còn chán sống mà tìm thấy được sức sống và niềm vui trong lao động, trong văn nghệ thấy mình gắn bó với nông trường. Sự hồi sinh về sự sống trong câu chuyện ngắn của Nguyễn Khải không chỉ viết về sự hồi sinh của con người mà còn nói đến sự hồi sinh của thiên nhiên cảnh vật. Đó là sự hồi sinh của khu pháo binh phía Tây Hồng Cúm của giặc năm xưa lại là bãi trồng lạc của đội sản xuất số “6… Một buổi tối thứ bảy, mọi người đến chơi, trong căn phòng của vợ chồng Lâm ở khu gia đình có Huân, Duệ, Đào. Huân luôn quan tâm đặc biệt tới Duệ còn Duệ thấy cuộc đời mình gắn bó với Huân. Trong niềm vui, hạnh phúc đang đến của mình, Đào thầm chúc cho hạnh phúc của Huân - Duệ.

Ý nghĩa của tác phẩm:

“Mùa lạc” mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc hướng niềm cảm thương và sự khẳng định phẩm chất tốt đẹp của người lao động. Thông qua tác phẩm, nhà văn muốn khẳng định sự lạc quan, niềm tin vào cuộc sống, niềm tin vào xã hội lý tưởng, tươi đẹp.“Mùa lạc” mang nguồn cảm hứng về sự hồi sinh lớn lao, bất diệt của thiên nhiên, đời sống tâm hồn con người.

Nguyễn Khải sinh ra trong một gia đình bất hạnh. Vốn được tiếng sinh ra trong gia đình dòng dõi nhà quan nhưng ông phải sống trong sự ghẻ lạnh, khinh bỉ của họ hàng và thậm chí sống trong sự thờ ơ của chính người cha đẻ của mình. Cuộc sống của Nguyễn Khải thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Nguyễn Khải cũng bước chân ra từ chuỗi những khó khăn, gian khổ. Những điều kiện sống khó khăn đã hình thành trong ông một ý chí sống để tự khẳng định mình.

Tham gia vào phong trào kháng chiến, Nguyễn Khải được trải nghiệm ở nhiều lĩnh vực với nhiều nhiệm vụ khác nhau vì thế ông có cơ hội được học tập và tiếp cận chân lý.

Truyện ngắn Mùa lạc được viết trong thời gian miền Bắc đang hồ hởi xây dựng chủ nghĩa xã hội hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Nhà nước đã có những con người dũng cảm dám tình nguyện lên mảnh đất mới này. Trong số đó có Nguyễn Khải, được từng ngày chứng kiến sự thay da đổi thịt của vùng đất Điện Biên: từ hoang tàn, hoang sơ, u ám thành mảnh đất có màu của sự sống. Vì vậy,tác giả đã cho ra đời “Mùa lạc”. Tác phẩm như một bản nhạc tấu hòa ca xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống trên miền đất mới.

Triết lý được hiểu là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm là những quan điểm chung được đúc kết từ trong cuộc sống, định hướng cho con người trong hoạt động cuộc sống.

Triết lí nhân sinh là triết lí về con người, về lẽ sống, mục đích sống đúng đắn của con người, là những tâm tư, tình cảm, ước mơ, khát vọng, lý tưởng sống của con người. Từ đó định hướng cho những hoạt động; hành vi của con người trong xã hội. Nghiên cứu văn chương nói chung và nghiên cứu dưới góc nhìn triết học về những giá trị nhân sinh trong tác phẩm văn chương nói riêng thêm một lần nữa khẳng định tài năng của tác giả và sự trường tồn của tác phẩm. Nguyễn Khải là cây bút trí tuệ đã để lại một kho tri thức vô cùng phong phú và tuyệt vời. Truyện ngắn Mùa lạc của Nguyễn Khải luôn gần gũi bình dị, đậm hơi thở của cuộc sống. Tác phẩm của ông đọc những đoạn khiến độc giả phải ngưng lại nghẹn ngào. Ông đã thổi vào những tác phẩm của mình tình cảm và tình yêu sâu sắc khiến người đọc phải trầm ngâm; suy ngẫm; chiêm nghiệm. Nhân vật trong tác phẩm Mùa lạc thông minh, sắc sảo, hoạt bát đọc xong tác phẩm tác giả muốn truyền tải những triết lý trong cuộc sống. Thông qua Mùa lạc tác giả muốn gửi đến cho chúng ta thông điệp hãy kết nối yêu thương, hãy quan tâm, chia sẻ với nhau, luôn mỉm cười, lạc quan để cùng nhau làm việc cùng sống với nhau tốt đẹp hơn.Càng đọc ta lại càng thấy tình cảm nhân đạo thể hiện trong chiều sâu của tác phẩm.

Càng đọc, càng suy ngẫm độc giả càng thấy rõ hơn: Nguyễn Khải là nhà văn của lý tưởng; của triết lý nhân sinh. Nguyễn Khải luôn đưa ra chân lý sống đề cao sự nỗ lực vươn lên không ngừng của dân tộc, của bản thân mỗi con người trong việc đi tìm lẽ sống; hạnh phúc cho mỗi bản thân và cho toàn dân tộc.

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG “MÙA LẠC” CỦA NGUYỄN KHẢI

Thứ nhất, thiên nhiên và con người không tách rời ra mà gần gũi, bình dị và hòa quyện, thống nhất với nhau. Thiên nhiên hiện hữu trong đời sống con người một cách hài hòa. Chúng ta có thể bắt gặp thiên nhiên có mặt trong từng nhịp sống của con người trên nông trường Điện Biên. Ngay đầu tác phẩm là buổi bình minh trên cánh đồng Điện Biên không thể thiếu màu của hoa lá, cỏ cây, màu của sự sống đang bừng lên. Ánh sáng của mặt trời trở thành nguồn năng lượng quan trọng trong đời sống sản xuất của đội sản xuất số “6”. Màu xanh của lá lạc, lá cỏ nghệ, và lá rút đồng cùng với cái “lay động” của cây me hòa nhịp cùng tiến trình thu hoạch lạc của các nông trường viên ở cánh đồng phía Tây Hồng - Cúm: có những tiếng ù ù, lạo xạo… âm thanh của máy móc phát ra, từ trung tâm của cảnh hiện ra những cái máy tuốt lạc cùng với hình ảnh của con người đang miệt mài làm việc giữa bụi và âm thanh. Trong quá trình lao động sản xuất, hình ảnh: mây, rừng, núi, dòng sông gần gũi với con người. Sau mỗi buổi lao động về thì dòng sông Nậm - rốn chảy êm đềm là địa điểm thân thiết gắn bó với Huân, anh ngâm mình xuống dòng sông, ngắm lại bản thân mình và thả nỗi niềm tâm sự cùng dòng sông.

Thứ hai, thiên nhiên gần gũi, tươi đẹp là chất xúc tác kích thích nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của con người. Thiên nhiên hòa vào cuộc sống sinh hoạt của con người nơi mảnh đất Điện Biên. Hình ảnh thiên nhiên được mang vẻ đẹp riêng của mảnh đất Điện Biên, của núi rừng Tây Bắc. Tâm hồn Huân tan chảy vào khung cảnh “huyền ảo” của thiên nhiên, Huân mở rộng tâm hồn để đòn nhận vẻ đẹp kỳ vĩ làm say đắm lòng người. Đêm trăng kích thích nguồn cảm hứng nghệ thuật của Huân, Huân ngồi thổi tiêu, âm thanh của tiêu chắp cánh bay lên thì cả thế giới tâm hồn phong phú của anh được sống lại, cả thế giới tâm hồn Huân trỗi dậy, cả những hoài niệm về quá khứ đan lẫn những khao khát, những ước mơ hiện tại, cảm xúc say xưa như được hòa tan, chắp cánh bay theo tiếng tiêu. Cảnh vật nông trường Điện Biên cứ từ từ hiện ra trong sự hồi sinh. Cảnh vật Điện Biên cũng là nguồn cảm hứng để Huân vẽ tranh, cho Đào làm thơ. Rừng núi Tây Bắc không những là nơi để con người sinh sống, tác động để tạo ra nguồn lương thực nuôi sống con người mà thiên nhiên nơi đây còn là nguồn cảm hứng cho những nhà nghệ sĩ “nghiệp dư” sáng tạo ra những vần thơ, câu văn phục vụ cho đời sống tinh thần con người.

Chinh phục, cải tạo tự nhiên

Thiên nhiên đem lại cho con người nhiều nguồn lợi trong cuộc sống nếu con người biết cách cải tạo, chinh phục nó. Nguyễn Khải đã nhìn thấy rõ sự thay đổi của cảnh vật thiên nhiên nơi này chính là nhờ óc sáng tạo, nhiệt tình trong làm việc, và bàn tay lao động khéo léo của con người. Điện Biên căng tràn nhựa sống, đầy ắp tiếng hàn huyên vui vẻ, không còn màu man rợ của sự chết chóc.

Quá trình lao động sản xuất cải tạo vùng đất hoang vu của con người cực kỳ khó khăn, vất vả và gian khổ. Con người đã chinh phục được tự nhiên một cách hiệu quả nhất để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của mình, nói như thế không có nghĩa là con người sống tách rời tự nhiên mà con người vẫn sống hài hòa, gắn bó với thiên nhiên yêu dấu.

2.2. Triết lý về mối quan hệ giữa con người với con người

2.2.1. Tình cảm gia đình

Gia đình là tổ ấm, che chở là điểm tựa cho con người khi ta sinh ra, lớn lên. Mỗi khi buồn, vui con người đều nhớ về gia đình, những lúc mệt mỏi, áp lực nhất gia đình là nguồn động viên cho mỗi con người. Nhưng dù gặp nhiều đau thương, cực khổ trong đời sống gia đình, họ vẫn luôn một lòng hướng về gia đình, một lòng thủy chung, sắt son. Nhà văn Nguyễn Khải đã khắc họa nên nhân vật chịu những thiệt thòi đó chính là Đào trong “Mùa lạc”. Đào cũng có gia đình đầm ấm nhỏ của mình, tưởng chừng sẽ được hạnh phúc nhưng hoàn cảnh đưa đẩy người chồng lao vào con đường cờ bạc, không còn tiền, nợ nần, người chồng bỏ đi Nam đề lại Đào một mình ở quê. Người chồng bỏ đi để mặc Đào, một mình lo toan, gánh nặng đè trên vai người phụ nữ trẻ. Dù hôn nhân có nhiều khó khăn, thử thách cô vẫn miệt mài làm việc, chung thủy sắt son vun đắp cho cuộc sống gia đình chờ người chồng trở về. Đào là biểu tượng của người phụ nữ rất Việt Nam, có tấm lòng bao dung, chịu thương, chịu khó hi sinh vì gia đình, là những người vợ hiền thục.

Đầu năm 1950, chồng Đào trở về gia đình ăn ở lại với nhau được “đứa con lên hai”[19, tr.47] thì chồng lại chết, mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi để chị ở một mình”, gia đình đoàn tụ, hạnh phúc mới được có mấy năm thế mà cuộc sống khó khăn, khắc nghiệt đã cướp đi của chị hết tất cả. Đôi khi trên đường đời mải miết, cuộc sống xô bồ bon chen người ta quên bẵng đi mất một thứ quan trọng và thiêng liêng hơn hết là gia đình. Với Đào thì không như vậy, người phụ nữ thiệt thòi ấy lao thân vào con đường buôn bán xuôi ngược để quên đi nỗi đau thương trong lòng nhưng trong tâm khảm của cô, Đào vẫn nhớ về gia đình da diết. Cô nhớ chồng, nhớ con, nhớ công việc mà người phụ nữ hàng ngày thường vun vén. Gia đình có lúc ngọt bùi, có lúc gặp những đắng cay nhưng Đào vẫn luôn coi trọng nó. Hay như, nhận được bức thư tỏ tình táo báo của Dịu muốn xây dựng hạnh phúc cùng Đào, mặc dù chỉ là những dòng suy nghĩ miên man nhưng cho thấy rằng chị khát khao một tổ ấm. Trong tổ ấm của mình, Đào lại chăm sóc cho đứa con của Dịu, có sự quan tâm của các thành viên trong gia đình với nhau, có những lo toan, bận bịu thường nhật. Tình cảm gia đình là điểm tựa tinh thần vững chãi để con người vượt qua khó khăn, thử thách chính trong cuộc sống.

2.2.2. Tình yêu đôi lứa

Tình yêu đôi lứa trong tác phẩm Mùa lạc là tình yêu xuất phát từ trong lao động sản xuất của con người trên nông trường Điện Biên. Tình yêu của con người trên mảnh đất này thật bình dị, mộc mạc và rất đỗi chân thành. Trong “Mùa lạc” tình yêu của Huân, Duệ, Đào, Dịu…nhẹ nhàng, đằm thắm không bị những dục vọng tầm thường, thấp kém làm xấu đi.

Trên nông trường cuộc kỳ ngộ, kỳ duyên giữa người chiến sĩ thời bình - Huân với cô công nhân nông trường xinh đẹp - Duệ. Tình yêu của Huân và Duệ được đánh giá rất xứng đôi.Tình yêu của Duệ dành cho Huân “ bắt đầu từ những cuộc biểu diễn văn nghệ trong giờ nghỉ”[19, tr.59]. Tình yêu của Duệ nảy sinh từ từ trong những ngày lao động cải tạo cánh đồng phía tây Hồng - Cúm. Tình yêu của Huân mang tới cho Duệ căng tràn nhiệt huyết, sức sống, tình yêu của Huân sôi nổi, nhiệt thành để thổi luồng hơi ấm cho người mình yêu, Huân luôn làm tất cả để người yêu mình vui, người yêu mình hạnh phúc.

Đào - người phụ nữ đã trải qua cuộc sống hôn nhân khi có cuộc sống không mấy hạnh phúc, cuộc sống có những giai đoạn cùng cực tưởng chừng khó có thể tìm lại được tình yêu thế mà đến Điện Biên, tình yêu trong cô được hồi sinh. Tình yêu của người con gái lỡ làng với thiếu úy lò gạch đã ngóa vợ đã làm sống lại hai tâm hồn. Nhận được lời tỏ tình trong bức thư của Dịu, Đào thấy tâm trạng xao xuyến, lâng lâng. Được sống trong môi trường tốt đẹp giữa lòng người bao dung, nhân ái, sự quan tâm của những người đàn ông Huân, Dịu...Đào đã thay đổi hẳn cách nhìn về cuộc sống, về cuộc đời. Làm việc cùng người con trai đẹp, khỏe mạnh - Huân , Đào khát khao sống, thèm khát khao yêu đương. Tình yêu trong lòng cô trỗi dậy, cô cũng muốn được yêu, cô ước giá như cuộc đời chưa tắt hẳn. Đã rất lâu Đào chưa được nhận một lời yêu thương, gắn bó nào và cũng chưa ai cảm thấy gắn bó cuộc đời mình với Đào. Đào rất nhạy cảm, chỉ với bức thư viết bằng những lời ngọt ngào yêu đương đầu của Dịu làm sống lại những khát khao về tình yêu trong lòng Đào. Tình yêu làm cho Đào hòa hợp với mọi người, gắn bó với mảnh đất Điện Biên. Quan niệm tình yêu của các nhân vật trong “Mùa lạc” là gắn bó với nhau bằng sự thủy chung son sắt, là nguyện sống với nhau có trách nhiệm, là sự quan tâm, chăm lo cho nhau để đi tới tình nghĩa vợ chồng và bên cạnh đó là cả trách nhiệm chăm lo cho những người thân của người mình yêu.

Triết lý về mối quan hệ giữa con người với xã hội

. Đề cao tình yêu lao động

Bất kể ở đâu có con người là ở đó có lao động. Người khác động vật ở chỗ biết lao động, loài vật chỉ hành động theo bản năng vốn sẵn có của nó. Lao động giúp chúng ta tạo ra nguồn của cải, vật chất nuôi sống bản thân, gia đình và làm giàu cho xã hội. Nhà văn Nguyễn Khải đã mở ra không khí lao động vui vẻ, nhộn nhịp, khẩn trương của những con người lao động trên nông trường Điện Biên qua tác phẩm “Mùa lạc”.

Điểm lao động là điểm trung tâm, sinh động của nông trường, mọi người hồ hởi, tích cực, hăng say lao động. Qua âm thanh của tiếng “ vòng trục quay ù ù của ba cái máy tuốt lạc”[19, tr.43], người đọc hình dung ra được toàn bộ không khí lao động của các công nhân viên say mê hào hứng qua động tác đạp trên những chiếc bàn gỗ “rình rịch”, tiếng kéo gom lạc lạo xạo. Có cảm thấy khỏe khoắn, thích thú thì con người mới hăng say làm việc đến thế.

“Mùa lạc” là tác phẩm tuyệt tác của Nguyễn Khải dành tặng cho mảnh đất Điện Biên sau cuộc xâm nhập thực tế của nhà văn năm 1958, khi nhà văn hòa chung không khí hồ hởi với tinh thần làm chủ, xây dựng vùng kinh tế mới. Bước đầu xây dựng nông trường, lao động chưa nhộn nhịp tấp nập, mấy tháng trời chỉ có lưỡi xẻng đi trước để gỡ mìn, chặt cây bằng sự chăm chỉ, chịu khó, cùng nhau đoàn kết lại với nhau để khắc phục hậu quả của chiến tranh. Một năm qua đi, mùa xuân thứ hai tới, nhờ sự sáng tạo của con người trong lao động mà vùng đất Điện Biên trở nên trù phú: có màu lạc, ngô thay bằng màu của sự chết chóc, những máy tuốt lạc ù ù quay thay bằng cây chó đẻ, dây thép gai, lưỡi xẻng hoen rỉ. Sự lao động miệt mài của con người biến mảnh đất Điện Biên xưa chỉ có chiến tranh thì nay trở thành mảnh đất trù phú, miền đất hứa miền đất của sự sống, sự sinh sôi, nảy nở.

Ý thức tập thể, sự quan tâm lẫn nhau trong lao động

Con người sống trong xã hội nào cũng không thể thiếu được mối quan hệ với tập thể. Nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Khải luôn tôn trọng tập thể, có trách nhiệm, nghĩa vụ về tập thể, có mối quan hệ bình đẳng, thân ái, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất. Các công nhân viên trong “Mùa lạc” luôn có ý thức và tinh thần tập thể. Đây cũng chính là điểm nhấn mạnh tính triết lý nhân sinh sâu sắc được thể hiện trong tác phẩm.

Cảnh lao động sôi nổi diễn ra trên nông trường Điện Biên, ống kính máy quay của nhà văn ngừng lại lâu hơn ở khoảng của Huân và Đào. Với tinh thần đoàn kết và ý thức lao động vì tập thể, đến giờ nghỉ giải lao nhưng Đào vẫn cố dúm thêm mấy dúm lạc nữa rồi mới nghỉ. Đào và Huân phụ trách cùng một cáng, mặc dù đã thấm mệt nhưng hai người chưa từng có ý nghĩ, tư tưởng ỷ lại vào tập thể mà luôn có ý thức, trách nhiệm cao. Đào mồ hôi chảy từng giọt, mặt nham nhở vết đất nhưng vẫn vui vẻ, hăng say làm việc. Đào và Huân luôn đặt quyền lợi và lợi ích tập thể lên trên, hành động vì sự sinh tồn, vì tập thể. Ở Huân và Đào đều có những tính cách mà chúng ta cần học tập.

Mặc dù trong lao động có nặng nhọc, vất vả nhưng mọi người không ngừng quan tâm, chia sẻ, động viên nhau. Huân đưa mắt sang nhìn Đào, thấy vành khăn của Đào mồ hôi thấm ướt, chân đạp xuống bàn gỗ cũng bắt đầu uể oải Huân quay lại hỏi thăm Đào. Huân cũng đã thấm mệt, quần ướt đẫm mồ hôi nhưng anh vẫn nhận phần làm nặng hơn về mình. Không ai bắt Huân phải chịu phần thiệt hơn về mình nhưng vì lợi ích chung của tập thể, Huân thấy đó là phần trách nhiệm mình cần làm. Tác giả đề cao tinh thần hợp tác, giúp đỡ nhau trong tập thể. Mỗi giờ giải lao ba tổ sản xuất lại có dịp được ngồi giao lưu với nhau, trong không khí chung đó mọi người cũng không ngừng hỏi han nhau, quan tâm tới nhau.

. Sự hồi sinh trong tâm hồn con người

Sự hồi sinh những cảnh đời và những số phận là khác nhau. Sự hồi sinh trong tâm hồn mỗi con người lại có những thay đổi tư tưởng cảm xúc khác nhau.

Ông thiếu úy lò gạch - Dịu, là người lính vừa buông tay súng đã trải qua những tháng ngày đau thương của chiến tranh, phải đối mặt với sự mất mát, đối mặt với tuổi già, đối mặt với cô đơn, con thơ thì còn non dại nhưng cuối cùng cũng tìm được hạnh phúc của bản thân mình cùng Đào. Tiếp theo là nhân vật Duệ, tuy không được khắc họa một cách đầy đặn nhưng Nguyễn Khải vẫn miêu tả một cách đậm nét, có cuộc đời và số phận riêng. Duệ là một cô gái mồ côi, phải sống cùng chú dượng. Cô gái chưa từng trải đời, chưa phải va chạm nhiều với cuộc sống cũng tìm thấy tình yêu đẹp cùng Huân.

Cảm hứng về sự hồi sinh nổi bật nhất trong tác phẩm “Mùa lạc” là sự hồi sinh trong tâm hồn nhân vật Đào. Đào là người phụ nữ rất riêng về ngoại hình và tính cách. Chị là người phụ nữ lao động chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ. Người phụ nữ này có những nét thô và ít duyên dáng: với thân hình sồ sề, thiếu sự hòa hợp, cái đầu nhọn hoắt trong khi gò má cao và đầy tàn hương; hai con mắt hẹp, hàm răng đen nhô ra ngoài môi, cùng với những ngón tay to, cặp chân ngắn. Người phụ nữ thua thiệt về nhan sắc ấy lại có những nét linh hoạt, sắc sảo: đôi mắt nhỏ đưa đi đưa lại rất nhanh, hàm răng khểnh hay ưa đùa cợt. Khắc họa hình thể bên ngoài của Đào, nhà văn như dự báo số phận bấp bênh, chìm nổi của Đào. Chuỗi cuộc đời Đào là những ngày chịu nhiều bất hạnh, khổ đau. Lấy chồng từ năm 17 tuổi, bị chồng bỏ rơi hàng mấy năm trời. Khi chồng trở về ăn ở với nhau được một đứa con thì chồng chết, đứa con lên sài rồi cũng bỏ chị đi. Tuổi thanh xuân tràn ngập trong đau khổ; Chị không có ý thức để bù đắp lại những thiệt thòi về nhan sắc. Dường như khi mất đi người thân, mất đi hạnh phúc trong tay thì Đào cũng đồng thời đánh mất tài sản quý giá nhất của người phụ nữ là nhan sắc, vẻ đẹp nữ tính; mái tóc óng mượt ngày xưa không được chăm sóc đã đỏ đi như chết. Cuộc sống của chị quá vất vả, Đào vẫn chưa ý thức để bù đắp những thiệt thòi, mất mát ấy. Đào lao vào con đường buôn bán, ngược xuôi. Chị trở thành người không nhà của, không gia đình “tứ cố vô thân”. Đào tìm lên nông trường Điện Biên với tâm lý con chim bay mãi cũng mỏi cánh, con ngựa chạy mãi cũng chồn chân, chị chỉ muốn tìm nơi thật xa để quên đi những tháng ngày đau khổ phải trải qua. Đến với Điện Biên, Đào không ngờ cuộc đời mình như được lật sang trang khác. Tuy không có dung nhan đẹp như những người phụ nữ khác nhưng cô lại được trời phú cho sự thông minh, sắc sảo. Đào thuộc nhiều ca dao, tục ngữ, vận dụng linh hoạt trong giao tiếp hàng ngày. Mặc cảm về số phận lỡ làng của bản thân, mặc cảm về ngoại hình, mặc cảm về cái nghèo…nhưng cô vẫn luôn ý thức được chính mình, Đào cũng khao khát sống bằng tất cả những gì mình có. Được làm việc cùng Huân con người chị bùng cháy lên tình cảm gia đình mà bấy lâu nay chị không có được. Sự hồi sinh của Đào càng ngày mạnh mẽ, quyết liệt hơn, Đào đã tìm được hạnh phúc đã mất đi sau hơn mười năm liền - đó là khi Đào nhận được thư của Dịu. Bức thư của Dịu làm Đào sống lại cái cảm giác như khi nhận được lời tỏ tình, hò hẹn đầu tiên. Nỗi khao khát được sống khiến Đào quyết tâm tìm cuộc đời còn lại của mình. Đào thấy cuộc đời mình gắn bó với nông trường. Đào đã thật sự thay đổi không còn thấy cô đơn, buồn tủi nữa; vừa làm Đào vừa hát véo von, mọi người với chị thật gắn bó thân thiện, mọi người đều là những họ nhà gái đáng yêu, đang vun đắp hạnh phúc cho chị.

Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng về sự hồi sinh “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ những hi sinh gian khổ”[19, tr.56]. Sự hồi sinh của đất nước và sự hồi sinh trong tâm hồn, hồi sinh trong nhận thức người. Sự thiết tha nhất của tác giả là sự hồi sinh của những mảnh đời. Tư tưởng triết lý: “ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”[19, tr.56]. Cuộc đời mỗi con người có những ranh giới ở phía trước. Ranh giới là cái vạch giữa sự sống và cái chết, giữa thất bại và thành công, giữa đau khổ và sung sướng. Cho nên, chúng ta phải có bản lĩnh, dũng cảm vượt qua ranh giới của chính mình để hướng đến giá trị của cuộc sống.

. Tinh thần lạc quan, niềm tin vào cuộc sống

Tác giả đặt tên tác phẩm là “Mùa lạc” đó chính là mùa thu hoạch lạc. “Lạc” theo từ điển Hán Nôm có nghĩa là vui, chuyện vui vậy “Mùa lạc” là mùa vui, mùa chuyện vui.Trong hoàn cảnh khó khăn, cực nhọc họ vẫn luôn yêu đời, yêu cuộc sống, tinh thần lạc quan tin tưởng vào một tương lai tươi sáng. Là nhà văn của quân đội, lý tưởng của nhân vật trong “Mùa lạc” cũng là lý tưởng của Nguyễn Khải, xuất phát từ lập trường lý tưởng người cộng sản cho nên ông lạc quan tin tưởng Đảng là nơi nương tựa vững chắc và đầy đủ tin cậy về đời sống vật chất, tinh thần.

Luôn phải đối mặt với những khó khăn, vất vả trong lao động sản xuất nhưng với sự cần cù, chăm chỉ chịu khó, tinh thần lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống, con người trên nông trường Điện Biên đã gặt hái được nhiều thành quả trên mảnh đất chết này. Không quản mọi khó khăn, vất vả những người con của nông trường Điện Biên xắn tay, lội bùn, vỡ hoang, san rừng, gỡ mìn…có khi đổ cả mồ hôi, nước mắt, có khi phải đánh đổi bằng máu: “dây thép gai chọc nát bàn tay, mồ hôi thấm rách từng loạt quần áo” [19, tr.53]để tạo nên sắc màu tươi vui của sự sống - màu xanh của lạc, của ngô, màu đỏ của ớt và những âm thanh bình dị quen thuộc hàng ngày: tiếng guốc lẹp kẹp, tiếng cười the thé, tiếng trẻ con khóc, tiếng thủ thỉ tâm sự. Môi trường lao động khó khăn, nặng nhọc nhưng trong cả quá trình ta không thấy tiếng kêu than, bi quan mà luôn đầy ắp tiếng trêu chọc, ca hát cười đùa..

Các nhân vật trong truyện ngắn Mùa lạc không chỉ lạc quan trong lao động sản xuất mà họ còn lạc quan trong tình yêu, lạc quan trong cuộc sống, họ tin vào ngày mai sẽ tươi sáng hơn. Huân tin tưởng vào tình yêu mình dành cho Duệ. Anh tin và tự hào về tình yêu trong sáng của mình sẽ được Duệ nhận ra và trân trọng nó. Khẳng định niềm tin của Huân được rèn luyện trong thử thách, Huân luôn có một trái tim nhân hậu, một cái nhìn tích cực đầy lòng tin yêu vào người khác. Còn nhận được lá thư cầu hôn của Dịu, Đào có bàng hoàng nhưng tình yêu làm cô có cái nhìn lạc quan vào cuộc sống, tin vào cuộc sống tươi đẹp cô không hề chán ghét cuộc sống, cô thấy mọi thứ thật gần gũi thân thương... Thực sự với tinh thần lạc quan, niềm tin yêu vào cuộc sống Đào đã tìm được hạnh phúc của đời mình. Đào sẽ gắn bó với Điện Biên. Với tinh thần lạc quan, niềm tin yêu cuộc sống mọi người trên mảnh đất Điện Biên đều tìm được cho mình những hạnh phúc nhỏ nhoi, dù bất cứ hoàn cảnh khó khăn khắc nhiệt nào đi nữa.

Ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong “Mùa lạc”của Nguyễn Khải với việc giáo dục con người Việt Nam hiện nay

Trong quá trình phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại, vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của mọi trường phái triết học. Con người vẫn là đề tài muôn thủa cho các nhà khoa học, triết học nghiên cứu. Mọi trào lưu triết học từ cổ đại đến hiện đại đều đi lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp về những vấn đề chung nhất của con người. Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại về vấn đề con người, với tư tưởng khoa học đúng đắn về con người, triết học Mác đã khẳng định con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, là chủ thể của lịch sử và bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận, kế thừa và vận dụng sáng tạo lý luận mác-xít vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong luận điểm về cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề con người và giải phóng con người. Hồ Chí Minh luôn khẳng định con người là vốn quý nhất, cái đích của cuộc cách mạng mà Hồ Chí Minh hướng tới là giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Xuất phát từ vị trí vai trò của con người trong đời sống xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng con người. Trong toàn bộ quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng đặt lên hàng đầu chiến lược xây dựng và phát triển con người. Khái niệm con người mới đã được sử dụng trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng.

Từ thực tiễn đã và đang chứng minh tính đúng đắn trong các quan điểm của chủ nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của nền văn hóa mới, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhất, giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Triết học Mác đã kế thừa những quan điểm tiến bộ về con người trong lịch sử tư tưởng triết học đi đến khẳng định con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội. Con người là sản phẩm của tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên, là tinh hoa của muôn loài. Con người phải tìm kiếm mọi điều kiện: ăn, ở, đấu tranh với mọi hoàn cảnh khắc nhiệt của thiên nhiên để đấu tranh cho sự tồn tại của mình. Vì vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ biện chứng với nhau: con người sinh ra từ thiên nhiên, thiên nhiên quyết định cuộc sống của con người và con người quyết định số phận của thiên nhiên. Con người muốn tồn tại được cần phải tác động vào chính môi trường để tạo ra nguồn của cải vật chất. Trong tác phẩm “Mùa lạc”, nhà văn Nguyễn Khải đưa người đọc hướng đến mảnh đất Điện Biên phải gồng mình để chống chọi với những đợt mưa bom của kẻ thù. Sau chiến tranh, thiên nhiên nơi đây bị tàn phá nặng nề, mảnh đất “chết” ấy nhờ có sự tác động cải tạo của con người mà Điện Biên ngày nay được hồi sinh trở lại bằng màu của sự sống. Vì vậy, ta phải biết yêu thiên nhiên, sống gắn bó, gần gũi thiên nhiên và cải tạo môi trường tự nhiên ngày càng tươi đẹp hơn. Thiên nhiên không những đem lại của cải, vật chất cho con người mà còn là nguồn cảm hứng nghệ thuật bất tận vô giá.

Thông qua “Mùa lạc”của Nguyễn Khải cần giáo dục con người phải biết cải tạo, khai thác nguồn lợi từ thiên nhiên, biết sống hài hòa, gần gũi để khám phá vẻ đẹp kỳ diệu của tự nhiên. Thiên nhiên mang lại cho con người nhiều lợi ích. Mảnh đất lịch sử hào hùng trải qua những trận tuyến lửa ác liệt nhưng không chịu thất bại. Mỗi người đến với Tây Bắc đều chung tay góp sức để giữ gìn, cải tạo nơi này từ mảnh đất còn ngợp lên rừng cây chó đẻ, dây thép gai, vỏ mìn…thành mảnh đất trù phú với màu xanh thẫm của đỗ, màu đỏ tươi của ớt chín, màu vàng ửng của khóm đu đủ. Ngày nay với nhu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên là vấn đề đang được quan tâm. Các nguồn nước, không khí ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng bởi các chất khói, bụi độc hại từ các nhà máy, xí nghiệp, các phương tiện giao thông hàng ngày vẫn đang xả ra môi trường mà chưa khắc phục triệt để. Các khu rừng bị tàn phá nặng nề, con người chặt cây, đốt rừng, săn bắn động vật vô tội vạ để trục lợi cho riêng mình. Những cánh rừng được mệnh danh là “lá phổi xanh” mang lại nguồn không khí trong lành êm dịu cho con người thì đang dần thay bằng những quằn quại đau đớn không thể giữ nổi những cánh cổng ngăn cản những đợt lũ quét đi những sự sống của con người. Những đợt sóng ngầm dưới lòng biển cứ gầm gừ có thể trực lên cuốn trôi đi sự sống con người bất cứ lúc nào nếu con người còn có thêm ý đồ xấu tác động vào “ mẹ” thiên nhiên. Nguồn lợi thiên nhiên mang đến cuộc sống con người tưởng chừng như vô tận nhưng nếu con người không biết khai thác hợp lý, bảo vệ thiên nhiên thì chính loài người đang thắt chặt sự sống của mình lại. Nhận thức rõ thực trạng đó, trong Đại hội Đảng lần thứ XII năm 2016 đưa ra thực tại tàn phá tài nguyên thiên nhiên hiện nay. Đứng trước những nguy cơ đó, Đại hội Đảng lần thứ XII đề cao trách nhiệm của các ban, ngành cùng vai trò đoàn kết trong cộng đồng để nâng cao có hiệu quả công tác phòng chống thiên tai có thể xảy ra. Việc khai thác, cải tạo tự nhiên một cách hợp lý để tự nhiên phục vụ nhu cầu sống cho con người tạo nên một mối quan hệ hài hòa. Đó cũng là nội dung triết lý nhân sinh về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải để giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, cái nôi “sống” của loài người. Thiên nhiên là tài sản vô giá rất cần thiết cho con người. Con người sẽ không tồn tại và phát triển được nếu không có thiên nhiên. Cần giáo dục mỗi người phải có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên, nâng cao ý thức trách nhiệm đối với tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh với các hành vi phá hoại thiên nhiên, sống gần gũi chan hòa với thiên nhiên và tuyên truyền vận động mọi người cùng thực hiện.

Thứ hai, giáo dục con người biết trân trọng tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa

Khi bàn tới “gia đình”, có nhiều các quan niệm khác nhau về gia đình, chúng ta có thể hiểu đơn giản gia đình là tập hợp những người sống cùng nhau dựa trên cơ sở hôn nhân và có cùng máu mủ, cùng quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, giáo dục… được gắn kết lại với nhau cả về vật chất và tinh thần.

Lịch sử xã hội sẽ tiếp tục phát triển, ngày nay khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão chính vì thế sự giao lưu, mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ đem đến cho các gia đình Việt Nam những cách tiếp cận cuộc sống mới. Phần lớn, cuộc sống của các gia đình có bước phát triển hơn, có nhiều yếu tố tích cực để xây dựng gia đình có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, ngày càng văn minh hơn. Tuy nhiên, một lát cắt trong số các gia đình lại chịu tác động những mặt tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường ảnh hưởng đến đời sống gia đình Việt. Do đó sẽ làm ảnh hưởng nặng nề, kìm hãm tới sự phát triển của gia đình và toàn xã hội. Xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc là trách nhiệm của toàn xã hội. Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng đất nước thì công tác gia đình trở thành chiến lược mang tầm quốc gia. Để gia đình trở thành một cộng đồng gần gũi của những người liên kết với nhau trong những quan hệ đạo đức trong sạch và cao thượng thì việc xây dựng gia đình theo chuẩn văn hóa truyền thống, xây dựng gia đình văn minh, tiến bộ, hạnh phúc góp phần vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc. Triết lý nhân sinh trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải về mối quan hệ giữa con người với con người chứa đựng những giá trị truyền thống của gia đình đồng thời cũng giáo dục con người biết trân trọng tình cảm gia đình.

Tình cảm gia đình tồn tại vĩnh hằng có thể vượt qua cả rào cản về thời gian để tồn tại trong mỗi tâm trí con người. Trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, nhân vật Đào gặp nhiều cực khổ đau thương nhưng gia đình không mất đi trong thế giới của cô. Đào có ý thức trân trọng về gia đình, cô vẫn nhớ gia đình da diết. Hoặc khi nhận được tình yêu của Dịu, tình yêu gia đình của Đào lại trỗi dậy: cô sẽ chăm sóc cho đứa con riêng của Dịu, chăm sóc cho tổ ấm nhỏ bé của mình, cô thấy mình cần có trách nhiệm hơn với gia đình. Người Việt với lối sống xem trọng tình cảm: tình mẫu tử, tình anh em, tình nghĩa phu thê... nên cho dù cuộc sống có khó khăn cho tới đâu nhưng không nhấn chìm được tình cảm thiêng liêng cao quý trong mỗi con người. Đó cũng chính là bài học để giáo dục các cặp vợ chồng biết yêu thương, gắn bó, tôn trọng nhau, hãy tự ý thức được tầm quan trọng của gia đình, ý thức nuôi dưỡng tình cảm hôn nhân của chính bản thân mình, đẩy lùi, tránh xa vào những cạm bẫy của tệ nạn xã hội xây dựng cuộc sống gia đình ngày một tốt đẹp hơn, gắn bó hơn. Bắt nhịp với xu hướng toàn cầu hóa, mỗi gia đình cần có hướng đi đúng có văn minh, văn hóa, xóa bỏ những tập quán hôn nhân cũ bị ảnh hưởng của xã hội phong kiến,tiếp thu những cái hiện đại trong tổ chức đời sống gia đình mà vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt. Thông qua tác phẩm “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, một phần giáo dục đạo đức gia đình; con người giữ gìn, quý trọng tình cảm gia đình thiêng liêng.

Trong cuốn sách “Giới thiệu tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ăngghen” tác giả Nguyễn Bằng Tường; Ăngghen đã đưa ra quan hệ biện chứng giữa tình yêu, hôn nhân và gia đình. Ông cho rằng tình yêu là những giá trị cao quý, tình yêu là cơ sở, nền tảng của hôn nhân và cuộc sống gia đình bền vững. Tình yêu lứa đôi của các nhân vật trong tác phẩm “Mùa lạc” của Nguyễn Khải bình dị, mộc mạc nhưng thổi lên hơi ấm, sức sống trong lòng họ. Tình yêu làm cho các nhân vật trong “Mùa lạc” thấy đáng yêu hơn, đáng sống. Ngày nay dưới tác động của cơ chế thị trường, đang có những suy nghĩ lệch lạc, mù quáng, quá đà trong tình yêu đôi lứa. Họ cho rằng tình yêu đôi lứa nhằm thỏa mãn ham muốn cho nên nhiều người đã sống buông thả bản thân, chạy theo nhu cầu vật chất bán rẻ tình yêu cao quý. Nhiều bạn trẻ không nghĩ đến chuyện kết hôn nhưng vẫn sống cùng với nhau như vợ chồng mà không nghĩ đến những những hậu quả ảnh hưởng đến chính sức khỏe, bản thân như: ảnh hưởng đến học tập, đến công việc hàng ngày, tình dục không an toàn có nguy cơ bị mang thai ngoài ý muốn dẫn tới tình trạng nạo phá thai ngày càng tăng, các nguy cơ bị lây truyền các bệnh qua đường tình dục (căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS)…Đa số những trường hợp này thường gặp nhiều đau khổ, rắc rối thậm chí là dẫn đến bi kịch trong cuộc sống hôn nhân sau này do bị ảnh hưởng của nạo phá thai dẫn đến ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản, ảnh hưởng đến đời sống tâm lý (cảm thấy buồn rầu, chán nản, mất đi niềm tin, mất phương hướng trong cuộc sống vì cách “sống gấp”, “yêu gấp”) hoặc có thể mắc một số bệnh lây truyền qua đường tình dục... những vấn đề đó là những hệ quả của lối sống hời hợt, dễ dãi trong tình yêu. Những “hạt sạn” này đang làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tình yêu đôi lứa chân chính. Để không rơi vào những trạng thái như trên thì cần giáo dục con người hãy biết trân trọng, đề cao tình yêu đôi lứa. Trong “Mùa lạc” nhà văn đã đưa ra thông điệp: tình yêu đúng nghĩa của nó chính là sự hòa hợp cả về tâm hồn, ước mơ chí hướng, để từ đó Huân - Duệ, Đào - Dịu, Lâm - Lộ nguyện gắn bó với nhau suốt đời, chia sẻ những buồn vui, khó khăn của cuộc sống, cùng vun đắp cho hạnh phúc gia đình. Tình yêu lứa đôi được gắn bó từ sau góc độ tâm hồn như thế, nếu chung sống cùng nhau họ sẽ mang lại hạnh phúc cho nhau. Là con người trong giai đoạn mới hãy xây dựng cho mình tình yêu chân chính, biết trân trọng nhau, không tính toán, vị kỉ, nhỏ nhen, không coi tình yêu mang tính chất nhất thời, tạm bợ, không mạo danh tình yêu để vụ lợi. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay không ít người coi thường giá trị tình yêu và giá trị của cuộc sống gia đình, có người đặt giá trị của tình yêu xuống hàng thứ yếu so với đời sống kinh tế vì vậy tác phẩm “Mùa lạc” của Nguyễn Khải như tiếng chuông nhắc nhở con người phải biết trân trọng, tôn quý tình cảm thiêng liêng này. Ý nghĩa của tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình càng lớn lao hơn khi con người có tình yêu lớn đối với gia đình, bạn bè, quê hương đất nước. Nội dung ý nghĩa nhân sinh trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải rất sâu sắc và có giá trị đến tận ngày nay.

Thứ ba, giáo dục con người biết yêu lao động

Con người là động vật bậc cao nhất mà không có một loài vật nào tiến hóa bằng, là tinh hoa của muôn loài. Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư tưởng đưa ra những quan niệm khác nhau để phân biệt con người với loài vật như con người khác con vật ở chỗ biết sử dụng công cụ lao động, con người biết suy nghĩ…Những quan điểm trên còn phiến diện, chỉ đúng một khía cạnh, triết học Mác nhận thức con người một cách đầy đủ, toàn diện. C.Mác và Ph.Ăngghen coi lao động sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện hình thành con người. Thông qua lao động, đánh dấu sự chuyển biến từ động vật thành con người và qua lao động con người làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên. Qua quá trình lao động, con người sản xuất ra của cải, vật chất và tinh thần để phục vụ nhu cầu sống của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương lao động vĩ đại mà mọi thế hệ sau cần noi theo. Hiện nay, quá trình xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảngthì vấn đề giáo dục lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay.

Triết lý về mối quan hệ giữa con người với xã hội trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải đề cao tình yêu lao động, sự quan tâm của con người lẫn nhau trong quá trình lao độnglà điều kiện trong việc đào tạo con người xã hội chủ nghĩa có những phẩm chất trung thực, tự chủ, biết yêu thương, có tình yêu lao động, có nhân cách của người cộng sản. Qua quá trình lao động con người biết sáng tạo ra công cụ lao động, có ý thức rèn luyện để làm việc đạt hiệu quả, xây dựng nên thế giới văn hóa. Toàn cảnh nông trường Điện Biên trong tác phẩm “Mùa lạc” là không khí miệt mài lao động khẩn trương của con người. Người tuốt lạc, người chuyển lạc lên cáng với cách làm việc say sưa, nhiệt tình. Nhờ sự chăm chỉ lao động, con người đã biến Điện Biên thành vùng kinh tế mới trù phú, tìm được chính hạnh phúc của bản thân mình nơi đây. Từ đó cho thấy nhà văn Nguyễn Khải tin tưởng vào những con người lao động sẽ đưa con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của chúng ta nhanh hơn. Truyện “Mùa lạc” giáo dục con người biết yêu lao động, biết coi trọng thành quả lao động của mình và của người khác, có thái độ vô tư, nhiệt tình trong lao động.

Lao động không thể xuất hiện ở trạng thái đơn nhất mà có tính tập thể xã hội. Mác đã đưa ra bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội vậy con người không thể sống riêng lẻ, tách rời mà con người sống trong một xã hội nhất định, con người cùng với xã hội khai thác thiên nhiên, phát triển ý thức. Đặc trưng của xã hội Việt Nam là nền kinh tế nông nghiệp gắn với quá trình dựng nước và giữ nước: khai thác, cải tạo thiên nhiên, phát triển sản xuất của các cộng đồng dân cư, các làng mạc - đơn vị kinh tế, xã hội của người Việt. Trong tiến trình phát triển đất nước tính cộng đồng luôn được bảo tồn, đặc biệt trong cộng đồng ấy, mọi người luôn quan tâm lẫn nhau. Cho đến nay thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì sự quan tâm lẫn nhau trong lao động sản xuất của cải vật chất vẫn rất cần thiết. Hiện nay, với quá trình phát triển kinh tế - xã hội đời sống con người được nâng cao. Tuy nhiên, có một số bạn trẻ được sống trong những gia đình có điều kiện, từ nhỏ không làm bất cứ việc gì vì vậy họ luôn sống dựa dẫm, ỷ lại vào người khác, không biết quan tâm đến người khác, không biết quý trọng giá trị lao động. Cho nên, để xây dựng xã hội phát triển phải đào tạo ra những con người tự lập, biết yêu thương, tôn trọng người khác và đặc biệt là biết yêu lao động, biết lao động tự giác và sáng tạo, biết quan tâm, chia sẻ lẫn nhau trong đời sống sản xuất vật chất và tinh thần. Triết lý nhân sinh trong tác phẩm “Mùa lạc” của Nguyễn Khải có giá trị lớn đối với việc giáo dục con người mới - xã hội chủ nghĩa cần phải lao động tự giác và sáng tạo, phải lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả để đưa đất nước phát triển mau lẹ sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Thứ tư, giáo dục tinh thần lạc quan, niềm tin vào cuộc sống.

Đất nước Việt trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Suốt chiều dài lịch sử là những cuộc đấu tranh gian khổ chống giặc ngoại xâm để bảo vệ bờ cõi đất nước. Bằng bản lĩnh kiên cường, bất khuất, tinh thần lạc quan, đoàn kết nhân dân ta đã có những chiến thắng vang dội. Có những chiến thắng vang dội là nhờ sự đồng sức đồng lòng của nhân dân, lòng yêu nước, tinh thần lạc quan, niềm tin vào cuộc sống. Tinh thần lạc quan, niềm tin vào cuộc sống của con người trong tác phẩm “Mùa lạc” của Nguyễn Khải làm cho con người trên mảnh đất Điện Biên có những thay đổi mới tích cực hơn. Nhân vật Huân, Dịu là những người lính bước ra từ trong chiến tranh, với cái chết cận kề bên mình nhưng với tinh thần lạc quan, tin tưởng vào con đường cách mạng Đảng ta đã chọn. Vì thế, họ cầm chắc tay súng đánh thắng kẻ thù. Chiến tranh kết thúc, sống trong thời bình họ hăng say lao động sản xuất để khôi phục kinh tế đất nước. Có niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống đã làm cho cuộc sống con người nơi nông trường Điện Biên được hồi sinh. Nhìn lại con đường đã trải qua, trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn, vất vả nào con người cũng trải qua để hoàn thành sứ mệnh của dân tộc. Trong quá trình hội nhập quốc tế càng ngày càng sâu rộng, đòi hỏi con người phải vững vàng ý chí, lạc quan, có niềm tin vào cuộc sống. Chỉ cần ta sống cần cù, chăm chỉ tin vào tương lai tươi sáng, kiên định với mục tiêu mình đã chọn thì chúng ta sẽ nhận được kết quả như mong muốn

Tác phẩm Mùa lạc của Nguyễn Khải chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh sâu sắc. Tính triết lý đó được thể hiện khá đầy đủ và rõ nét trong từng mối quan hệ cụ thể. Nói tới mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ta thấy tự nhiên tươi đẹp gần gũi với con người, thiên nhiên tạo cảm hứng sáng tạo cho con người. Khi nói tới mối quan hệ giữa con người với con người, tác giả khuyên con người nên sống hòa thuận, thủy chung, trọn nghĩa vẹn tình, có tình yêu trong sáng. Triết lý nhân sinh trong Mùa lạc khi nhắc đến mối quan hệ giữa con người với xã hội tác giả đề cao tình yêu lao động, hăng hái, say sưa tham gia vào quá trình lao động sản xuất, luôn luôn tôn trọng ý thức tập thể; trong lao động sản xuất luôn quan tâm, giúp đỡ nhau. Tính triết lý đó được biểu hiện khá đầy đủ thông qua các mối quan hệ cụ thể. Đặc biệt hơn trong quan niệm con người với cuộc sống. Trên mảnh đất Điện Biên khô cằn, hồi sinh những tâm hồn con người, hồi sinh tính cách, hồi sinh niềm tin vào cuộc sống. Những triết lý ấy như tấm gương phản chiếu, nhìn nhận mọi mặt của đời sống để mỗi người sống có ý nghĩa hơn

Truyện Mùa lạc với lời lẽ giản dị, mộc mạc, gần gũi, dễ hiểu, có nội dung thấm đẫm triết lý nhân sinh sâu sắc. Triết lý nhân sinh trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải mang giá trị tích cực lan tỏa đến con người, phù hợp với chuẩn mực đạo đức đặc trưng của con người xã hội chủ nghĩa. Việc giáo dục triết lý nhân sinh trong “Mùa lạc” với con người Việt Nam hiện nay luôn dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, cơ sở phương pháp luận mác-xít, theo quan điểm của đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó chính là hành trang, là người bạn đồng hành chỉ lối cho con người hiện nay đi đúng hướng để xây dựng đất nước Việt Nam tươi đẹp, văn minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CÁC NHÂN VẬT ĐI QUA THỜI KỲ KHÓ KHĂN ĐỂ XÂY DỰNG CUỘC SỐNG MỚI | Câu chuyện thời hoa lửa