CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 LÀ THẮNG LỢI CỦA MỘT DÂN TỘC BIẾT CHUẨN BỊ CHO THỜI CƠ, BIẾT NHẬN DIỆN THỜI CƠ VÀ HÀNH ĐỘNG ĐÚNG LÚC KHI THỜI CƠ ĐẾN
Trần Quang Tú

Có một luận điệu được lặp đi lặp lại với mục đích hạ thấp ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 rằng: Việt Nam giành được chính quyền chẳng qua nhờ “ăn may”, bởi Nhật đầu hàng Đồng minh, bộ máy cai trị rơi vào khủng hoảng, tạo ra khoảng trống quyền lực để Việt Minh “chớp lấy”.
Không thể phủ nhận Nhật đầu hàng Đồng minh là một điều kiện khách quan đặc biệt thuận lợi. Nhưng biến một điều kiện khách quan thành nguyên nhân duy nhất, rồi từ đó phủ nhận cả một quá trình chuẩn bị lâu dài của cách mạng là cách nhìn phiến diện, cắt khúc lịch sử và cố tình đánh tráo giữa thời cơ với nguyên nhân của thắng lợi.
Nhật đầu hàng tạo ra thời cơ. Nhưng thời cơ không tự mình tạo ra thắng lợi. Chính lực lượng cách mạng đã được Đảng xây dựng, rèn luyện, chuẩn bị và đường lối đã được xác lập, cùng bản lĩnh hành động đúng lúc mới biến thời cơ thành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945 lịch sử.
* LÒNG YÊU NƯỚC NỒNG NÀN, KHÔNG CHẤP NHẬN THÂN PHẬN MẤT NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ YẾU TỐ NỀN TẢNG KHỞI ĐẦU, TẤT YẾU TẠO NÊN MỘT “CÁCH MẠNG THÁNG TÁM” SAU NÀY
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước và ý chí bảo vệ độc lập được hình thành, bồi đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm trong lịch sử (nhất là phong kiến phương Bắc) không chỉ bảo vệ chủ quyền mà còn tạo nên một giá trị chính trị - tinh thần có sức sống lâu dài: độc lập dân tộc là lợi ích tối thượng của dân tộc Việt Nam.
Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam năm 1858, ngọn lửa đấu tranh ấy tiếp tục được duy trì qua hàng loạt phong trào yêu nước: Phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Việt Nam Quang Phục Hội và nhiều hoạt động yêu nước khác, dù chưa giành được thắng lợi, đã chứng minh một sự thật: người Việt Nam chưa bao giờ chấp nhận thân phận mất nước.
Nhưng lịch sử cũng đặt ra một câu hỏi nghiêm khắc: Vì sao lòng yêu nước mạnh mẽ, những cuộc khởi nghĩa kiên cường và sự hy sinh của biết bao thế hệ vẫn chưa thể đánh đổ ách thống trị thực dân?
Bởi lòng yêu nước là nguồn sức mạnh, nhưng muốn biến nguồn sức mạnh ấy thành thắng lợi chính trị cần một đường lối đúng, một tổ chức đủ năng lực và một phương thức tập hợp lực lượng phù hợp. Đó chính là bài toán mà Nguyễn Ái Quốc tìm lời giải trong hành trình tìm đường cứu nước. Nguyễn Ái Quốc không chỉ tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, mà còn từng bước chuẩn bị những điều kiện để con đường ấy trở thành hiện thực trên đất nước Việt Nam (tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên Việt Nam để đào tạo “hạt giống” cách mạng; sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, xuất bản báo Thanh niên, tác phẩm Đường Kách mệnh và nhiều ấn phẩm khác để truyền bá đường lối cách mạng vào Việt Nam, chuẩn bị các điều kiện để thành lập một chính đảng cách mạng có khả năng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc).
* ĐẢNG KHÔNG CHỜ MAY MẮN, ĐẢNG CHỦ ĐỘNG CHUẨN BỊ CHO THỜI CƠ
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam: phong trào yêu nước được đặt trong một tổ chức chính trị có đường lối và phương pháp cách mạng; những lực lượng phân tán từng bước được tập hợp dưới một mục tiêu chung.
Các phong trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và quá trình chuyển hướng chiến lược từ năm 1939 không phải những chương rời rạc. Đó là quá trình cách mạng vừa đấu tranh, vừa tích lũy kinh nghiệm, vừa xây dựng đội ngũ, vừa phát triển cơ sở.
Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 8 tháng 5/1941 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng các đoàn thể cứu quốc và chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang. Đây là một quyết định có ý nghĩa chiến lược. Cách mạng không chờ đến khi Nhật đầu hàng mới bắt đầu xây dựng lực lượng. Lực lượng được xây dựng trước; thời cơ đến sau. Đó chính là điểm khác biệt căn bản giữa một cuộc cách mạng có chuẩn bị với một hành động “ăn may”, cơ hội.
Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với 34 cán bộ, chiến sĩ. Một lực lượng vẻn vẹn 34 người, với vũ khí hạn chế, liệu có thể tự mình làm nên một cuộc cách mạng trên phạm vi cả nước? Tất nhiên là không. Họ là hạt nhân vũ trang, là điểm khởi đầu của quá trình xây dựng lực lượng quân sự cách mạng. Chỉ ít ngày sau khi thành lập, đội đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần. Sau đó, lực lượng vũ trang tiếp tục phát triển, kết hợp với Cứu quốc quân, tiến tới hình thành Việt Nam Giải phóng quân. Từ một hạt nhân nhỏ bé, lực lượng cách mạng từng bước lớn mạnh. Đó là sự chủ động trong chuẩn bị lực lượng cách mạng của Đảng.
Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Một biến cố lớn làm thay đổi sâu sắc cục diện chính trị ở Đông Dương. Nếu thật sự chỉ trông chờ vào “may mắn”, lực lượng cách mạng có thể ngồi chờ Nhật đầu hàng. Nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại. Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước, tạo tiền đề tiến tới tổng khởi nghĩa.
Đảng đã nhìn thấy sự thay đổi của cục diện chiến tranh, dự báo khả năng phát xít Nhật thất bại và chuẩn bị phương án cho tình huống quyết định. Đó là năng lực phân tích chiến lược. Đó là bản lĩnh chính trị.
* THỜI CƠ CHỈ CÓ GIÁ TRỊ KHI BIẾT HÀNH ĐỘNG ĐÚNG LÚC
Ngày 15/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh. Bộ máy cai trị Nhật - tay sai rơi vào khủng hoảng. Nhưng câu hỏi đặt ra là nếu chỉ cần Nhật đầu hàng là có thể giành chính quyền, tại sao không phải lực lượng chính trị nào cũng giành được chính quyền?
Câu trả lời rất đơn giản: thời cơ không phải là thắng lợi; thời cơ chỉ tạo ra khả năng. Muốn biến khả năng thành hiện thực phải có lực lượng, tổ chức, phương án và quyết tâm. Qua quá trình 15 năm chuẩn bị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những thứ này. Chớp thời cơ cách mạng, ngày 13/8, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa. Ngày 16 và 17/8, Quốc dân Đại hội Tân Trào thông qua chủ trương tổng khởi nghĩa, 10 chính sách lớn của Việt Minh và thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Từ đây, cách mạng chuyển từ trạng thái chuẩn bị sang hành động. Đó không phải phản ứng ngẫu nhiên trước sự đầu hàng của Nhật. Đó là kết quả của một phương án đã được chuẩn bị để triển khai ngay khi điều kiện chín muồi.
Thời cơ chỉ có giá trị đối với người biết hành động đúng lúc. Trong lịch sử, có những thời cơ chỉ xuất hiện trong vài ngày, thậm chí vài giờ. Tháng Tám năm 1945 là một thời cơ như vậy. Nếu tổng khởi nghĩa quá sớm, khi Nhật còn đủ khả năng đàn áp, lực lượng cách mạng có thể chịu tổn thất lớn. Nếu chần chừ, quân Đồng minh tiến vào Đông Dương, cục diện chính trị có thể thay đổi hoàn toàn. Vì thế, vấn đề không chỉ là “có thời cơ”, mà là “nhận diện đúng thời cơ và hành động đúng thời điểm”.
Ngày 19/8, Hà Nội giành chính quyền. Ngày 23/8, Huế giành chính quyền. Ngày 25/8, Sài Gòn giành chính quyền. Đến ngày 28/8, chính quyền cách mạng cơ bản được thiết lập trên cả nước. Trong đó, ngày 19/8/1945, hơn 10 vạn quần chúng tham gia cuộc mít tinh, biểu tình tại Hà Nội. Con số ấy đặt ra một câu hỏi: Một lực lượng quần chúng đông đảo như vậy từ đâu mà có?
Không thể có hơn chục vạn người được giác ngộ, tập hợp và cùng hành động chỉ trong một đêm! Phía sau ngày 19/8 là cả một quá trình tuyên truyền, vận động, tổ chức và xây dựng cơ sở. Phía sau mỗi đoàn thể cứu quốc là những cán bộ hoạt động trong điều kiện bí mật, nguy hiểm. Phía sau mỗi cơ sở cách mạng là sự hy sinh của những con người mà lịch sử nhiều khi không ghi hết tên tuổi. Phía sau một ngày Tổng khởi nghĩa là nhiều năm chuẩn bị. Một cuộc tổng khởi nghĩa diễn ra không thể là sản phẩm của sự ngẫu nhiên, may mắn. Nó phản ánh năng lực tổ chức, chỉ huy và huy động lực lượng đã được rèn luyện, tích lũy trong nhiều năm. Nếu gọi thành quả ấy là “may mắn”, thì đó là âm mưu cố tình xóa bỏ công sức, trí tuệ và sự hy sinh của cả một dân tộc.
Không thể phủ nhận vai trò của hoàn cảnh quốc tế, chiến thắng của Đồng minh và sự đầu hàng của phát xít Nhật đã tạo điều kiện khách quan rất thuận lợi. Nhưng lịch sử không vận động bằng một nguyên nhân duy nhất. Cách mạng Tháng Tám là kết quả của sự kết hợp giữa thời cơ khách quan và sự chuẩn bị chủ quan; trong đó, thời cơ là điều kiện thúc đẩy trực tiếp; còn lực lượng chính trị, tổ chức, đường lối, sự chuẩn bị và khả năng lãnh đạo là những yếu tố quyết định khả năng biến thời cơ thành thắng lợi.
* KHÔNG CÓ “MAY MẮN” NÀO KÉO DÀI 15 NĂM
Muốn phủ nhận Cách mạng Tháng Tám, những kẻ xuyên tạc, phủ nhận lịch sử buộc phải bỏ qua truyền thống yêu nước của dân tộc; bỏ qua hàng loạt phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp; bỏ qua hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc; bỏ qua sự ra đời của Đảng; bỏ qua 15 năm đấu tranh và chuẩn bị; bỏ qua Hội nghị Trung ương 8; bỏ qua sự ra đời của Việt Minh; bỏ qua quá trình xây dựng lực lượng vũ trang; bỏ qua Chỉ thị ngày 12/3/1945; bỏ qua Quốc dân Đại hội Tân Trào; và cuối cùng, bỏ qua chính sức mạnh của hàng triệu người Việt Nam đã đứng lên trong những ngày tháng Tám lịch sử… Nhưng càng bỏ qua nhiều sự kiện, tiến trình lịch sử, luận điệu xuyên tạc ấy càng tự bộc lộ sự phiến diện, bởi:
Không có sự “may mắn” nào có thể xây dựng được một hệ thống tổ chức từ cơ sở đến Trung ương.
Không có “may mắn” nào có thể tạo nên một lực lượng quần chúng đủ sức làm thay đổi cục diện chính trị trong vài ngày.
Cũng không có “may mắn” nào có thể thay thế cho quyết định đúng thời điểm.
Và càng không có “may mắn” nào có thể tự mình biến một dân tộc bị áp bức thành chủ thể quyết định vận mệnh của chính mình.
Nhật đầu hàng chỉ mở ra thời cơ. Chính sức mạnh của Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã hành động đúng thời cơ để giành lấy độc lập, tự do. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của một dân tộc biết chuẩn bị cho thời cơ, biết nhận diện thời cơ và hành động đúng lúc khi thời cơ đến. Đó là sự thật lịch sử, không thể bị phủ nhận hay chuyên tạc bằng từ “may mắn”.




