Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 - MỞ RA KỶ NGUYÊN ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là bản hùng ca về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Đằng sau thắng lợi lịch sử ấy là sự đóng góp, hy sinh thầm lặng của biết bao chiến sĩ và đồng bào. Từ những ngày Tổng khởi nghĩa sục sôi đến khoảnh khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, mỗi dấu mốc đều nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay trân trọng hòa bình, nuôi dưỡng lòng biết ơn và tiếp bước cha anh xây dựng quê hương, đất nước.

Nghệ An28/10/2026Phường Chơn Thành (Đoàn phường Chơn Thành)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 - MỞ RA KỶ NGUYÊN ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Thời kì mà mỗi tiếng gió thổi qua đồng lúa, đều mang theo những mùi khét của tiếng súng và hơi ấm còn sót lại. Từ chính những người lính đã ngã xuống vì quê hương. “Cách mạng tháng Tám” là trang sử đẫm máu và nước mắt, nơi mà từng câu chuyện đều là lời kể và sự hy sinh, mất mát nhưng vẫn toả sáng sự kiên định của một niềm tin không bao giờ có thể bị dập tắt. Sự hy sinh của những người chiến sĩ của hôm ấy là hoà bình của nhân dân ta ngày nay. Tháng 8 năm 1945, khi phát xít Nhật đầu hàng, cả dân tộc Việt Nam như một bó đuốc lớn. Không chỉ có những người lành đạo ở Lán Nà Nưa, mà chính những người dân áo nâu, gánh hàng rong, anh phu xe ở Hà Nội đã làm nên Tổng khởi nghĩa.

Bác Hồ từ Pác Bó trở về, chủ trì Hội nghị Tân Trào, quyết định Tổng khởi nghĩa. Câu nói nổi tiếng : “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành cho được độc lập”. Tuy chỉ là một câu nói nhưng đã làm hàng triệu con tim rung động, hàng triệu tinh thần khơi dậy sự dung cảm để đứng lên vì đất nước. Có những trái tim yêu nước đầy quả cảm để tham gia, đánh đổi cả tính mạng để đổi lấy độc lập dân tộc năm ấy. Các đại biểu ở Đại hội Tân Trào ( 16-17/18/1945 ) đã có mặt 60 đại biểu đại diện cho cả nước về đình Tân Trào để tán thành lệnh khởi nghĩa. Ở Hà Nội ngày 19/8, hàng vạn dân ngoại thành cầm gậy tầm vông, dao, mã tấu tiến vào chiếm Phủ Khâm Sai, Trại Bảo an binh. Làm lung lay biết bao cảm xúc. Những con người đã dung cảm vượt gian nan. Khổ cực thời ấy là những người anh hùng can trường, hết long vì Tổ quốc. Chống chịu những phát sung. Đạn bom của quân địch, nhắm mắt nằm xuống đất liền, để lại bao nổi nhớ thương của nhân dân. Trên mảnh đất khô cằn ấy, giờ đây chỉ còn lại những giọt mồ hôi cùng nước mắt cho sự đau khổ, những giọt xương máu dần chìm xuống, đọng lại là khoảng trống trên đất kèm với bao cố gắng của cái chiến sĩ. Những khuôn mặt vĩ đại của ngày hôm ấy. Được mệnh là tượng đài buất khuất trong người dân Việt Nam.

Nơi mà cách mạng tháng Tám diễn ra, đã chon vùi những chỗ góc khuất của những tấm long anh hùng chiến sĩ. Họ không vô danh, tên tuổi của họ sẽ được ghi nhớ mãi trong trái tim con cháu, dân tộc như mùa xuân trường tôn cùng vũ trụ. Những bộ áo quần đã in sâu đậm mùi mồ hôi, máu của người liệt sĩ năm xưa. Chúng ta của ngày hôm nay là do công sức của người lính đã kinh qua một thời binh lửa. Người xưa của tháng Tám năm 1945, đã đánh đổi cả tính mạng, tinh thần lẫn thể xác; và thứ chúng ta cần đánh đổi trong ngày nay là những thành tích của lớp trẻ để xứng đáng với một cuộc sống hoà bình như hôm nay. Bóng lung của người lính như núi non hùng vĩ, che chở cả giang sơn phía sau; tiến bước lên không chút ngần ngại, giành độc lập về cho con cháu. Ông cha ta thuở ấy tựa ánh sáng ngàn năm không tắt, giành đất nước bằng cả máu mủ của mình, bằng long dung cảm cao ngút ngàn. Dù cho giông bão, sóng to cũng không thôi được cái sự kiên quyết, nghị lực ấy. Công sức của những thương binh đã bỏ ra, đã cho đi cho một tương lai gần xa mà họ đặt kì vọng. Mong muốn con cháu sau này sẽ có được cuộc sống tốt đẹp hơn, thành công hơn. Mong giới trẻ hiểu được đó là biểu hiện của khát vọng được cống hiến hết mình cho Tổ quốc, của một tình yêu đất nước mãnh liệt; mong muốn được đem lại thành công, vinh danh cho quê nhà. Tuổi trẻ, sức trẻ của mỗi chúng ta hãy dành tặng cho mãnh đất chữ S này. Vì quê hương đất nước, vì dân tộc, vì hai tiếng Tổ quốc thiêng liêng.

Khép lại ngày 19/8 kiếp nô lệ, mở màn tiếp nối là ở Huế ngày 23/8, Sài Gòn ngày 25/8. Có những người bình thường như chị bán bún, anh bán bún, học sinh bãi khoá,…tất cả đều xuống đường. Điều này cho thấy đây là trách nhiệm, có lòng yêu nước và đoàn kết. Sự cống hiến cho đất nước, chung tay vì một cuộc đời mới. Đêm ngày luôn, vượt công, mang từng tờ truyền đơn, từng khẩu súng giấu trong gánh rơm từ Việt Bắc về Hà Nội. Các mẹ, các chị trong thành phố may hàng trăm lá cờ đỏ sao vàng trong đêm, giấu cán bộ dưới hầm,trong thùng gạo. Nếu tính công sức mồ hôi, thì mỗi con đường ở Hà Nội ngày 19/8 đều ướt đẫm mồ hôi của họ. Nếu tính bằng máu, thì máu cờ đỏ sao vàng hôm ấy chính là máu của những người đã ngã xuống để cả dân tộc được đứng lên. Lẽ sống “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của cả một thế hệ chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân quân tự vệ giúp cho những người trẻ nhận thức đúng đắn về cuộc sống. Họ cầm súng để chúng ta cầm bút, họ đi trong bóng tối để chúng ta ngắm được ánh sáng. Có những người đã gửi lại tuổi hai mươi giữa khói lửa, để những đứa trẻ hôm nay được lớn lên trong tiếng cười, những mái nhà được sáng đèn và những trang sách được viết tiếp bằng ước mơ thay vì nước mắt. Chúng ta của hôm nay đã được hưởng thụ một tấm gương cao cả cho thế hệ sau.

Sáng 2/9/1945, quảng trường Ba Đình nắng như đổ lửa, hàng chục người chen nhau. Í tai biết, để có được khoảnh khắc Bác Hồ bước lên lễ đài, các chiến sĩ tự vệ và Vệ Quốc Đoàn đã thức trắng hai đêm liền. Các chiến sĩ tự vệ thành Hoàng Diệu, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ khuân từng tấm gỗ, đóng từng cây đinh dưới ánh đèn dầu. Không có máy móc, chỉ có búa, cưa, dây thừng. Áo nâu uót đẫm mồ hôi tay phồng rộp. Họ làm suốt đêm để kịp sáng 2/9 có chỗ cho chính phủ lâm thời đứng. Ngày 2/9, tàn quân Nhật vẫn còn trong thành, bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách vẫn lăm le phá hoại. Từ ba giờ sáng 2/9, chiến sĩ tự vệ đã toả đi khắp các ngả đường: Cửa Bắc, Cửa Nam, ga Hàng Cỏ, cầu Long Biên. Tay chỉ có gậy tầm vông, súng kíp cũ, nhưng đứng gác nghiêm ngặt từng đoan người từ ngoại thành vào. Dẫn đường cho đồng bào, vừa đi vừa giữ trật tự cho bà con. Luôn miệng hô “Bà con đi hàng đôi, giữ trật tự!” .

Trên lễ đài, các chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn đứng vòng trong, súng lăm lăm. Dưới quảng trường, tự vệ cài cắm trong dân. Máy bay Nhật vẫn lượn trên trời. Nắng tháng 9 gắt như thiêu, các anh đứng nghiêm không dám nhúc nhích, mồ hôi chảy thành dòng trên trán, thấm ướt tấm lung, anh vẫn đứng đó đảo mắt quan sát xung quanh, sẵn sang lao ra nếu có kẻ phá hoại. Công sức thầm lặng hơn mà gian khổ hơn, là công sức giữ gìn an ninh. Các anh lấy cả tấm thân mình , đứng dưới cái nắng của Hà Nội. Lúc đấy Hà Nội vô cùng phức tạp. Quân Nhật tuy đã đầu hàng nhưng vẫn còn súng trong các trại lính. Lính Tưởng Giới Thạch đang rục rịch kéo vào. Bọn Việt Quốc, Viết Cách lén lút rải truyền đơn đòi phá buổi lễ. Nếu ngày 2/9 có tiếng súng nổ, một vụ lộn xộn, hình ảnh nước Việt Nam sẽ bị bôi nhọ.

Vì thế, các chiến sĩ đẩy mạnh sự cảnh giác, canh gác suốt mấy tiếng ở buổi lễ. Người dân đông đúc, tập trung đứng chờ buổi lễ diễn ra. Anh tự vệ đứng ở đầu cầu Long Biên kiểm tra các món hàng, lo sợ rằng sẽ bị mất vài món, nếu mất sẽ xảy ra chuyện. Anh tự vệ Quốc Đoàn đứng gác ở Phủ Toàn quyền cũ, nơi quân Nhật đóng, không dám chớp mắt một cái. Giữa cái nắng của Hà Nội tháng 9, đường đầy bụi mùi, các anh chị vẫn đi bộ hàng chục cây số, chân thì mỏi, họng thì khàn đặc vì hô hào giữ trật tự. Dù mệt, vẫn cố gắng nghiêm túc và không một ai than vãn. Đôi dép cao su của họ đứt quai, họ buộc lại bằng dây thép và đi tiếp.

Và khi buổi lễ chính thức bắt đầu, công sức của họ là đứng yên như tượng. Trên lễ đài, hàng tự vệ danh dự đứng nghiêm, tay ôm súng, mồ hôi chảy dài trên khuôn mặt. Chính giữa lễ đài, Bác đứng đó, ngay trước chiếc mic-rô. Dưới sân, các chiến sĩ cải trang thành dân thường, mắt luôn liếc nhìn xung quanh với vẻ mặt cảnh giác. Chính nhờ vòng bảo vệ bằng người ấy, mà Bác Hồ và Chính phủ lâm thời được an toàn tuyệt đối, mà năm mươi vạn dân được nghe trọn vẹn lời Tuyên ngôn. Trên lễ đài, Bác bắt đầu nói “Hỡi đồng bào cả nước, tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng…” Người dừng lại hỏi: “ Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” Cả biển người ở quảng trường Ba Đình đồng thanh vang dội:”Có!”. Chỉ một câu nói giản dị ấy thôi mà đã xoá tan mọi khoảng cách giữa vị Chủ tịch nước và hàng chục vạn người dân, khiến ai cũng rung vì từ nay mình thực sự là công dân của một nước độc lập: khoảnh khắc trên bục gỗ lịch sử, Người đứng ở vị trí trung tâm, giản dị trong bộ quần áo kaki đã bạc màu, tay cầm bản Tuyên ngôn. Chính giữa quảng trường, giọng nói ấm áp của Người vang lên. Làm rung động biết bao trái tim của quảng trường.

Kết thúc một cuộc cách mạng bằng câu nói của vị Cha già dân dộc:”Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã hoàn thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Câu nói tạo nên ý nghĩa xoá bỏ mọi luận điệu của thực dân Pháp nói rằng “Việt Nam chưa đủ trình độ độc lập”. Và đây là lời thề: Độc lập nếu chỉ tuyên bố mà không giữ thì sẽ mất-câu này là lời cảnh báo cho kẻ thù và lời dặn cho con cháu muôn đời sau. Bác đã thay mặt toàn thể dân tộc thề: “Quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Chữ “quyết” đanh thép chữ “tất cả” cho thấy sự hy sinh không gì so sánh được. Đó không phải là một câu văn, mà là lời thề lịch sử, là sức mạnh để nhân dân ta đi qua hai cuộc kháng chiến trường sau này. Sau khi trang sách Cách mạng tháng Tám khép lại, phải qua lớp bụi lịch sử, chúng ta đã khắc ghi trong tim một nỗi nhớ thương, biết ơn và sự tự hào về những người chiến sĩ, những trái tim đầy nhiệt huyết hết mình vì cả độc lập. Một lần nữa cảm ơn những tấm lòng cao cả đã lấy thân mình đổi lại yên bình cho đất nước, sự tự cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Tất cả con người, đồng bào đã chống chọi bom đạn trong Cách mạng tháng Tám đã hết lòng, bất chấp bất khuất, vượt qua mọi chông gai và sóng lớn kể cả những cơn mưa bão. Dùng cả tính mạng để giành lấy hoà bình. Mở rộng mảnh đất của niềm tự hào dân tộc, đổi lại cho thế hệ trẻ những hạnh phúc, mỗi khi nhắc đến những trang sách được viết tiếp chỉ hiện lên hai chữ “hoà bình” chứ không còn là “nghịch cảnh”.

Chiến tranh đi qua, để lại bao nước mắt của người lính và cả đồng bào. Dòng người ngoài kia vội vã trôi qua, chỉ có dấu mốc thiêng liêng “Cách mạng tháng Tám” ở lại nhìn con cháu của mình hưởng thụ một cuộc đời được xây dựng bằng máu mù, mồ hôi của vị anh hùng và cha ông. Tấm gương sáng ấy đã mang đến những lời nhắn nhủ về lòng dũng cảm của các chiến sĩ và Bác Hồ vĩ đại. Chiếu rọi cả một thế hệ sau, khắc tâm vào tấm lòng yêu nước của lớp trẻ hiện nay. Mỗi lần nhớ về khung cảnh, hình ảnh Cách mạng tháng Tám năm 1945, lại hiện lên trong tâm trí đồng bào là khoảnh khắc người chiến sĩ hết mình vươn trãi trên giông bão của ngày cách mạng.

Khoảnh khắc Người đọc bản Tuyên ngôn, chứng minh rằng Việt Nam ta đã chính thức giành được hoà bình về. Một lòng biết ơn không từ nào có thể diễn tả về những tấm lòng hy sinh vì Tổ quốc. Niềm xúc động khi nhớ đến hình dáng của Người và tiếng hô hoan ăn mừng chiến thắng của một đất nước mang danh là quê cha đất Tổ của chúng ta.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn