Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CÁI CÁN MÁC TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

Sinh năm: 12-1928 Quê quán: Liên Phương, Tiên Lữ, Hưng Yên Thường trú: P.105. G6. Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân, Hà Nội Điện thoại: 043. 8544879 Thiếu tá, nguyên Trưởng phòng Tác huấn Cục TMCB. Hiệu trưởng trường Quân chinh BTL 559 Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Đường lối Quân sự, Học viện Quốc phòng

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ


"Công binh là cán mác, Bộ binh là lưỡi mác, cán mác có
chắc thì mũi mác mới đâm thẳng được vào quân thù"


(Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh)



Mùa hè năm 1969, một bộ phận lớn của Đoàn 559 rút quân về Thanh Hoá chuẩn bị cho chiến địch mùa khô năm 1969-1970.

Vào khoảng tháng 6 năm 1969, hội nghị tổng kết của Đoàn 559 tổ chức tại Sầm Sơn để bàn kế hoạch cho chiến dịch, có đại biểu của các cơ quan Bộ Quốc phòng cùng tham dự. Năm 1969 cũng là năm đánh dấu 10 năm hoạt động của Đoàn 559 (1959-1969) trên tuyến đường Trường Sơn.


Hội nghị mới bắt đầu thì Chính uỷ Vũ Xuân Chiêm đến thông báo chiều nay Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ đến thăm. Nhưng chỉ ít phút sau, Chính uỷ lại quay vào hội trường vội vã nói: "Đại tướng muốn đến gặp anh em cán bộ ngay buổi sáng nay mà không phải là buổi chiều". Vừa dứt lời thì Đại tướng đã bước vào hội trường. Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên chưa kịp làm nghi lễ, thì Đại tướng đã hướng về phía các cán bộ và hỏi ngay là đồng chí nào đã công tác tại Đoàn 559 được 10 năm. Một vài cánh tay giơ lên, sau đó Đại tướng lần lượt đi xuống từng bàn, ân cần hỏi ai đã ở Đoàn được 9 năm, 8 năm, 5 năm... rồi 3 năm. Vừa đi vừa nhìn khắp lượt cán bộ một cách trìu mến đến tận dãy bàn ở cuối hội trường rồi mới quay lên, Đại tướng tiến đến tấm bản đồ kế hoạch vận chuyển mùa khổ 1969-1970, chỉ tay vào tấm bản đồ vui vẻ nói:

- Chúc cho “cái này” thành công!

Nói xong, Đại tướng quay về phía anh em cán bộ, nháy mắt cười hóm hỉnh:

- “Bem" mà1 (Bem = B.M = Bí mật).

Sau đó Đại tướng điểm danh các cơ quan trên Bộ đến dự tổng kết cùng Đoàn. Khi nói đến Công binh, Đại tướng hỏi:

- Bộ Tư lệnh Công binh có đồng chí nào dự đây không?

Đồng chí Nguyễn Ngọc Thành, cán bộ Bộ Tư lệnh Công binh đứng lên báo cáo. Với vẻ mặt hơi không vui, Đại tướng nhắc đồng chí Thành về báo cáo với Bộ Tư lệnh Công binh phải tăng cường giúp đỡ cho Đoàn trong chiến dịch tới.


Mùa khô năm ấy, chúng tôi được đón nhiều cán bộ từ Bộ Tư lệnh Công binh, từ Viện Kỹ thuật Quân sự vào cùng phối hợp với chúng tôi đi suốt tuyến đường nghiên cứu quy luật đánh phá của địch và tìm biện pháp khắc phục. Đó là các anh Lê Trung, Hoàng Công Quang ở Bộ Tư lệnh Công binh; các anh Thái Quang Sa, Nhâm Xuân Coóng, Nguyễn Văn Nghênh, Trần Văn Dần, Vũ Văn Thái... ở Viện Kỹ thuật Quân sự.


Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ đi đọc tuyến đường Tây Trường Sơn từ đèo Mụ Giạ thuộc Binh trạm 12 đến đường 49, từ Phi Hà đi Tà Ngâu thuộc binh trạm 37 (giáp với Campuchia). Đến Binh trạm 44 (đường B.46 Chà Vằn đi Lan Tôn) tôi bị thương khi đi tiếp đến Binh trạm sau, nên phải quay về cơ quan Đoàn, kết thúc một chuyến đi dang dở.


Đến binh trạm nào, tôi cũng đều muốn ở cùng ban công binh để thuận tiện cho công việc nhưng các thủ trưởng binh trạm lại ưu ái để tôi ở cùng, chẳng hiểu có phải vì một lý do tế nhị nào đó không! Với các thủ trưởng tôi đã gặp, họ đều tỏ ra là những người mến khách và khiêm tôn.


Hôm đến Binh trạm 12, tôi gặp anh Cao Đôn Luân, Binh trạm hưởng để trình bày kế hoạch phổ biến kinh nghiệm chống bom mìn. Anh rất sốt sắng cho tổ chức lớp và nói với tôi là “các anh phải dạy cho cả chúng tôi nữa!”


Đến Binh trạm 32, gặp anh Đặng Văn Ngữ, Binh trạm trưởng, trước kia cùng ở cơ quan Cục Công binh với nhau, nên anh hăng hái giúp đỡ chúng tôi cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng khi tôi vác ba lô đi xuống trọng điểm Lùm Bùm thì anh Phan Hữu Đại - Chính uỷ Binh trạm cứ băn khoăn là chúng tôi đã có đủ những thứ cần thiết chưa, kể cả thuốc lá.


Đến Binh trạm 34, làm việc với Công binh xong, tôi đang ngồi suy tư thì anh Phạm Thái, Chính uỷ Binh trạm đến động viên: “Anh lại đằng kia chơi đi!”, vừa nói anh vừa chỉ tay về phía anh chị em thông tin và công vụ đang tập trung ở đó. Tôi cười, trả lời một cách tự nhiên: “Tôi mới đến chưa quen ai cả”.


Cuộc chiến của Công binh trên tuyến đường này là ác liệt và cũng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Nhưng nếu có ai hỏi tôi: "Biểu tượng chiến đấu của Công binh trên đường Trường Sơn là gì?" thì tôi sẽ trả lời: "Đó là các đài quan sát và các trọng điểm”.


Các đài quan sát ngày đêm bền bỉ bám sát hành động của địch là cơ sở quyết định biện pháp chống phá bom mìn. Nhờ đó các trọng điếm được bảo vệ vững chắc, thể hiện sức sống mãnh liệt của con đường.


Thời gian đi nghiên cứu của chúng tôi từ cuối năm 1969 đến giữa năm 1970 chia thành từng đợt, không liên tục. Có lần đang đi công tác đến các Binh trạm, tôi được gọi quay ra, từ Lùm Bùm vượt qua Ta Lê, qua rất nhiều trọng điểm trên đường 20. Đi ngày, đi đêm để kịp đến Cổ Giang, Quảng Bình - nơi Trường 69 mới thành lập, để ngày hôm sau lên lớp (thật là quan trọng quá!). Lần khác, tôi cũng phải đến Km 18 đường 10 để giảng bài và đến cuối năm 1970 thì được về hẳn nhà trường.


Đến Tiểu đoàn 2 Công binh thuộc Binh trạm 12 đang chốt giữ trọng điểm Seng Phan, tôi gặp các anh Cao Xuân Thung, Tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Độc Lập, Chính trị viên Tiểu đoàn đều là cán bộ thuộc Trung đoàn 152 Quân khu IV mà trước đây tôi làm Trung đoàn trưởng. Anh em gặp lại nhau nên rất vui mừng, anh Thung cho chúng tôi biết tình hình đơn vị rồi dẫn chúng tôi đến sở chỉ huy tiền phương của Tiểu đoàn ở sát trọng điểm trong một hang đá tương đối rộng và cao hơn mặt đường đến vài mét.


Khi gần tới Sở chỉ huy thì một tốp máy bay ập đến thả bom từ trường. Chúng tôi kịp chạy về đến cửa hang, quay lại nhìn thấy bom từ trường đã bung cánh rơi xuống. Trước cửa hang có một khoảng đất rộng vài mét vuông, tôi đứng đó như trên ban công, nhìn cuộc chiến đang diễn ra ở dưới thấp, thấy rõ mồn một các chiến sỹ trực chiến ở đài quan sát đã lao ra dưới những làn bom đang dội xuống để đánh dấu điểm bom rơi. Tôi nhìn mà không phản ứng kịp, nên đã lúng túng không lôi được chiếc máy ảnh trong ba lô để chụp một cảnh thật hiếm có này. Nói cho đúng, chúng tôi mang theo máy ảnh chỉ để chụp những cảnh tĩnh cần thiết, chứ đâu phải là nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp hay phóng viên chiến trường, lúc nào máv ảnh cũng đeo lủng lẳng trước ngực để khi cần là sẵn sàng chớp lấy thời cơ bấm được những cảnh “thật 100%" như thế này mà chẳng cần phải bài binh bố trận gì cả.


Trong thời gian ở Seng Phan, anh em kể cho tôi nghe một câu chuyện về một nhà quay phim đến nhờ đơn vị giúp đỡ cho quay cảnh trọng điểm Seng Phan. Tuy đơn vị đã cử người đi theo bảo vệ và chọn thời điểm theo quy luật địch sẽ không đánh phá để nhà quay phim có thể yên tâm tác nghiệp. Nhưng có lẽ do quá choáng trước cảnh hoang tàn nơi trọng điểm, nên nhà quay phim đã quay về mà không thể quay được một thước phim nào. Mọi người hỏi tại sao không quay mà lại trở về sớm thế, thì nhà quay phim nói tránh đi là “máy không lắp phim”. Anh em động viên cứ lắp phim vào rồi đơn vị lại cử người đưa đồng chí ra trọng điểm quay lại, nhưng nhà quay phim nọ không trở lại trọng điểm để quay phim nữa. Có phải anh em sáng tác câu chuyện này để đùa trêu tôi đã chụp “hụt" một cảnh chiến đấu ở nơi đây chăng?


Còn tôi, sau đợt nay, đã để máy ảnh lại đơn vị vì mấy lần phải qua nơi có bom từ trường, đã vi phạm nguyên tắc để vật bằng kim loại trong ba lô.

Ở trọng điểm Seng Phan một tuần lễ, chúng tôi sống cúng với anh em những giờ phút căng thẳng, lo âu, hồi hộp, vui có, buồn có,... Ban ngày nghỉ ngơi, tranh thủ ngủ, chuẩn bị cho trận chiến đấu trong đêm, nào thuốc nổ, khung đây, nào xẻng nào cuốc,... Cũng có nhóm tranh thủ đánh vài ván "tiến lên". Còn cán bộ chỉ huy như anh Thũng và các chỉ huy phân đội thì mắt lúc não cũng đỏ ngầu hay thâm quầng vì thiếu ngủ.


Ban ngày, tôi đi quan sát được gần như toàn cảnh trọng điểm này. Trọng điểm bị đánh tan hoang, không còn một tí màu xanh của cỏ cây, chỉ còn vài gốc cây cháy dở đang đen sì. Mỗi khi có cơn gió thổi qua thì bụi, đất, đá bay mù mịt. Đường sá nham nhở, đất đá, cây cối đổ ngổn ngang. Những lèn đá cạnh đường bị nứt toác, bom phạt nham nhở như vạc.


Đứng giữa cảnh hoang tàn này, ngay cả lúc yên ắng cũng vẫn cảm thấy rợn người. Trong sự im lặng ghê người ấy, vẫn như luôn cảm thấy những con mắt rình mò nào đó ở xung quanh để bất thần ập đến những tai hoạ.


Khi chiều tà buông xuống cũng là lúc công tác chuẩn bị chiến đấu trong sở chỉ huy diễn ra rất khẩn trương nhưng vẫn trong một không khí bình thản. Tiếng máy bay gầm rú trên nóc hang như xé toạc bầu trời. Những tiếng nổ chát chúa của bom, mìn, đạn, bộc phá,... đã tạo nên một thứ âm thanh khủng khiếp mà tôi không biết gọi nó là gì?


Trong cái âm thanh hỗn độn khủng khiếp trộn với thứ không khí đặc quánh các loại khói bụi ùa vào trong hang, vẫn vang lên giọng chỉ huy dõng dạc của anh Cao Xuân Thung với các phân đội trực chiến ứng cứu, lúc nói bằng bộ đảm, lúc báo cáo bằng điện thoại, vẫn rõ ràng, mạch lạc tuy có lúc tiếng anh đã khản đặc vì bụi khói.


Chúng tôi chỉ ở có vài ngày với đơn vị nên không hiểu hết cuộc chiến đấu diễn ra ngày lại ngày của anh em. Nhưng với cuộc chiến của đơn vị trên trọng điểm này, có thể khẳng định một điều: “Dù con đường có bị đánh phá tan tành, hình dạng có thể bị thay đổi nhiều lần, vị trí bị chuyển dịch bao nhiêu bận thì con đường vẫn không hề mất đi mà sẽ tồn tại cho đến ngày chiến thắng”. Và Tiểu đoàn 2 chốt giữ tại đây đã hai lần được phong danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.


Nghiên cứu quy luật đánh phá của địch không gì tốt hơn là xông thẳng vào các trọng điểm, vì ở đó sẽ phơi bày tất cả các thủ đoạn của chúng cùng những phương tiện vũ khí hiện đại luôn được cải tiến và sử dụng một cách tối đa.


Dùng thô sơ để thắng hiện đại thì Công binh cũng đáng mặt “chiếu trên". Việc phá bom từ trường cũng từ phương pháp “cuốc cùn, xẻng cụt” rồi đến khung dây, đến xe phóng từ cũng thô sơ như vậy.

Nói đến khung dây phá bom từ trường thì không thể không nhắc đến các anh em Viện Kỹ thuật Quân sự: Thái Quang Sa, Nhâm Xuân Coóng, Nguyễn Văn Nghênh,... những người đầu tiên đưa khung dây vào chiến trường Trường Sơn và đã phát huy tác dụng mà chính tôi cũng đã được chứng kiến mấy lần. Hôm chúng tôi đi đến Binh trạm 31, giữa đường gặp một tổ công binh ngăn lại không cho đi vì có bom từ trường. Tôi nói với anh em: "Sao lại phải dừng, quàng cổ nó cho nó nổ mà đi chứ". Hai anh Lê Trung, Hoàng Công Quang cùng đi với tôi đã giúp anh em bố trí dây và kiểm tra tác nghiệp. Một tiếng nổ “oành” vang lên nhanh như chớp. Tuy đã biết trước kết quả mà tôi vẫn thấy ngỡ ngàng.


Với loại mìn vướng nổ hiện đại, nguyên lý vận chuyển phức tạp, rất nhạy nổ thì Công binh đã trị nó bằng phương pháp rất thô sơ: dùng sào tre để chọc, dùng chổi cán dài quét như quét rác. Anh Vũ Sơn là người đã tháo được quả mìn vướng nổ ra để nghiên cứu nguyên lý cấu tạo của nó.


Nói đến vấn đề nghiên cứu bom mìn thì không thể quên được công lao của các anh ở phòng Tác huấn Cục Công binh như: Nguyễn Đình Phơ, Nguyễn Thời Đại, Vũ Sơn, Nguyễn Ngọc Biên,... đã một thời gắn bó với cái nghiệp đầy bất trắc này. Anh Nguyễn Ngọc Biên đã hy sinh bởi bom từ trường trên đường đi công tác, anh Nguyễn Đình Phơ bị thương ở Ka Tốc, về nghỉ hưu tại Hà Nội, anh vẫn còn di chứng của bom, có lần động kinh, lăn đùng trước cửa hiệu bách hoá tổng hợp.


Va chạm với bom mìn như vậy, thương vong luôn rình rập, buộc lòng ai cũng phải thận trọng, không được phép một chút chủ quan. Ấy vậy mà sự lơ là coi thường sinh mạng vẫn cứ xảy ra. Đi bộ cả ngày, tối hôm đó chúng tôi vào nghỉ với tổ công binh trực chiến ở sát đường. Hầm chữ A chắc chắn, căng ni lông sạch sẽ. Một ngọn đèn dầu bằng vỏ quả bom dứa đặt lên cái hộp các tông để trong hốc tường hầm. Liếc nhìn cái hộp, tôi hỏi anh em: “Hộp gì đây?” Một đồng chí nói: “Hộp đựng kíp mìn". Tôi hỏi: “Hộp không chứ?”. Đồng chí đó nói cứ như không có chuyện gì: “Hộp vẫn còn kịp". Tôi yêu cầu mở hộp ra, bên trong đầy ắp kíp mìn vàng choé! Tôi toát mồ hôi hột, tóc gáy như muốn dựng ngược. Điều gì sẽ xảy ra khi hộp kíp mìn nổ tung trong cái hầm kín với những mái đầu đang chụm vào cây đèn? Và tôi bỗng nhớ một câu nói cảnh báo đối với Công binh mà dẫu có nhắc đi nhắc lại cũng không bao giờ cũ: “Trong nghiệp bom mìn, Công binh chớ có phạm sai lầm. Nếu pham sai lầm thì đó là sai lầm đầu tiên và cũng là sai lầm cuối cùng trong đời”.


Một lần chúng tôi đang đi trên đường B46, từ Chà Vằn đến Lan Tôn thuộc Binh trạm 44, tôi thấy chiếc máy ủi đất đang san lấp hố bom. Đó là chiếc máy ủi của Mỹ, anh em nói là lấy được của địch ở sân bay Khâm Đức. Đúng là lấy vũ khí địch để đánh địch. Ngày hôm sau, chúng tôi theo xe tải của binh trạm đến Tiểu đoàn 21 Công binh, đơn vị đã mang chiếc máy ủi ở sân bay Khâm Đức về. Tôi hôm đó, tôi nghe đồng chí tiểu đoàn trưởng Công binh kể chuyện. Đúng là một kỳ tích, một cuộc đấu trí giữa ta và địch. Hàng ngày máy bay địch vẫn rà soát canh giữ chiếc máy ủi còn ở sân bay. Ta làm máy ủi giả, cũng nguỵ trang cẩn thận, lừa cho chúng tưởng máy ủi vẫn ở đó. Máy ủi thật được chuẩn bị đầy đủ, bí mật cho chạy vào ven rừng rồi phát rừng cho máy đi theo đường rừng ra đường B46 dưới sự lùng sục gắt gao của địch.


Tôi đã đi bộ, đi xe, đi ban ngày, đi ban đêm trên tuyến đường này. Tôi cũng đã lên một vài đài quan sát, đến đôi ba trọng điểm và rút ra được những điều bổ ích. Nhưng so với các anh trong phòng Bảo đảm giao thông mà hồi đó anh Nguyễn Văn Kỷ1 (Sau đó là Phó Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh) là Trưởng phòng, thì những chuyến đi ấy của tôi cũng chẳng thấm tháp gì. Nhất là với anh Phan Công Khang, người nắm rất chắc tuyến đường này. Tôi hỏi đâu anh nói đó, sẵn sàng vẽ ngay sơ đồ trọng điểm mà tôi cần một cách khá chi tiết làm tôi phải phục lăn và trong thâm tâm đã coi anh như nhà “bách khoa toàn thư” về con đường chiến lược này. Khối lượng hiểu biết về con đường tỉ lệ thuận với những lần anh đặt dấu chân mình lên khắp ngả đường trong vị thế của người cán bộ bình thường phải ăn nhờ, bám xe đi ghé, chứ chưa phải là cán bộ tầm cỡ, có xe đưa người đón, tiền thưa hậu gửi.


Năm 1968, có việc đến Binh trạm 33, tôi giữ lễ đến trạm khách mà không vào thẳng thủ trưởng Binh trạm, lúc đó anh Nguyễn Huệ là Binh trạm trưởng, anh Nguyễn Linh Anh là Chính uỷ. Trạm khách là cái nhà thùng, cũng có hầm chữ A sơ sài cạnh đó. Một cái sạp nứa nằm vừa hai người. Lúc đó trên sạp có một người nằm đắp miếng vải dù hoa. Thấy tôi vào người đó vùng dậy. A! Hóa ra là Phan Công Khang. Anh Khang trước kia cùng ở cơ quan Tác chiến Cục Công binh Bộ Quốc phòng với tôi. Mấy năm mới gặp lại nhau trong chiến trường nên tôi mừng rỡ vì đã có bạn tâm tình trong lúc còn lạ nước lạ cái:

Đến bây giờ mới thấy đây
Mà lòng chắc đã những ngày một hai.

Cuối cùng, tôi cũng xin hé lộ là tại sao lại lấy tựa đề cho câu chuyện này như trên. Tôi có một người bạn chiến đấu từ hồi “9 năm" là anh Nguyễn Văn Thuận - hiện là giáo sư - tiến sỹ, công tác ở Học Viện Kỹ thuật Quân sự. Trong một buổi giao lưu với các bạn trẻ trước khi nghỉ hưu, có người hỏi anh đang làm nghề gì? Anh Thuận đã trả lời đầy tự hào: “Từ khi vào bộ đội đến nay, tôi vẫn làm nhiệm vụ cái cán mác!”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CÁI CÁN MÁC TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN | Câu chuyện thời hoa lửa