Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

“CÁI THUỞ BAN ĐẦU LƯU LUYẾN ẤY"...

Đồi Cọ (Cường Thịnh, Trấn Yên, Yên Bái) từng là nơi đứng chân của Trung đoàn tiêm kích 925 với máy bay Mikoyan-Gurevich MiG-19, lập nhiều chiến công trong các trận không chiến tháng 5-1972 trên bầu trời Yên Bái. Sau giải thể năm 1979, theo quyết định của Sư đoàn do Tư lệnh Phạm Thanh Ngân chỉ đạo, Trung đoàn tiêm kích 931 được thành lập ngày 2-9-1979, tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ vùng trời Tây Bắc. Trên đường hành quân lên Yên Bái nhận nhiệm vụ mới, tác giả mang nhiều suy tư về truyền thống chi

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khu vực Đồi Cọ thuộc địa phận xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Gọi là Đồi Cọ vì khu đồi ấy có trồng nhiều cây cọ. Cọ mọc suốt hai bên đường, mọc quanh đồi và các ngôi nhà được xây dựng xen kẽ dưới gốc những cây cọ. Lá cọ có rất nhiều tác dụng: lợp nhà, làm liếp che, bện chổi, đan quạt..., quả cọ cũng có thể án được bằng cách ỏm cọ (tức là ngâm quả vào nước nóng khoảng 70-80 độ một lúc là có thể vớt ra ăn được.)

Trước khi Trung đoàn Không quân tiêm kích 931 thành lập thì đã có một Trung đoàn Không quân tiêm kích - Trung đoàn Không quân 925 “định cư” ở khu vực Đồi Cọ rồi.

Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 được trang bị loại máy bay tiêm kích MiG-19. Trung đoàn đã cùng với các Trung đoàn Không quân tiêm kích khác của Sư đoàn tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân của đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Bầu trời Hoàng Liên Sơn từng náo động bởi những tiếng động cơ của loại tiêm kích MiG-19 khi cất cánh, từng chứng kiến những trận không chiến nảy lửa, một mất một còn giữa những cánh “én bạc” và bầy “quạ Mỹ”, từng ghi dấu những khúc ca bi hùng trong suốt những tháng năm dài chống Mỹ...

Trong các trận không chiến, các phi công của Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 tuy còn non trẻ, giờ bay tích lũy chưa được nhiều, chưa hề xông pha trận mạc, nhưng đã thể hiện lòng quả cảm, trí thông minh, dám đương đầu với lũ giặc trời của Không quân Mỹ, ngông nghênh, dày dạn kinh nghiệm và tích lũy nhiều giờ bay.

Tôi vẫn còn nhớ trận đánh ngày 8 tháng 5 năm 1972 của biên đội 4 chiếc, gồm Tiếp, Tiêm, Sơn A, Sơn B (Nguyễn Ngọc Tiếp, Nguyễn Đức Tiêm, Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Hùng Sơn) trực ở đầu Bắc sân bay. Biên đội 4 chiếc của các anh sau khi cất cánh, vòng trái để xuyên mây. Khi xuyên ra khỏi mây, biên đội bay về phía Thác Bà, khi vòng lại thì bị tốp F-4 đuổi bám. Các phi công của ta đã quần nhau vối 12 chiếc F-4 ngay trên vùng trời sân bay, ở trên mây. Địch dùng chiến thuật tách tốp. Các phi công ta cũng tách tốp, thành 2 biên đội 2 chiếc để không chiến với chúng. Biên đội của Tiếp, Tiêm đánh tốp trước, biên đội Sơn A, Sơn B đánh tốp sau. Khi bị biên đội của Sơn A và Sơn B bám đuổi, bọn F-4 tiếp tục tách tốp để thằng thì vòng lên cao, thằng thì vòng xuống thấp, lựa thế yểm hộ cho nhau. Nếu biên đội của ta bám theo thằng vòng lên thì lập tức thằng ở dưới sẽ quay ngoắt lại để bám đuôi biên đội của ta và ngược lại, nếu ta đuổi theo thằng lượn xuống thì thằng ở trên sẽ bổ xuống, tấn công biên đội của chúng ta ngay. Chiến thuật này bọn chúng sử dụng khá nhiều lần và cũng đã có lần thành công. Nhưng biên đội của Sơn A cũng đã tách đội. Sơn A bám đuổi thằng kéo lên, còn Sơn B theo thằng lượn xuống dưới. Những tiếng tăng lực của động cơ, tiếng đạn nổ, tiếng tên lửa rít... náo loạn bầu trời Yên Bái. Tất cả trận chiến sống mái ấy đều diễn ra ở trên mây càng làm tăng thêm sự căng thẳng và kích thích trí tò mò của những người ở dưới mặt đất. Sau 8 phút không chiến, trận chiến kết thúc khi các phi công ta về hạ cánh an toàn trên sân bay. Hai phi công Nguyễn Ngọc Tiếp và Nguyễn Hùng Sơn đã bắn cháy 2 chiếc máy bay địch. Trận này là trận khỏi đầu cho những chiến công tiếp theo của Trung đoàn Không quân 925.

Hai ngày sau, ngày 10 tháng 5 năm 1972, biên đội 4 chiếc của Bổng, Hà, Cương, Tưởng (Hoàng Cao Bổng, Phạm Cao Hà, Nguyễn Văn Cương và Lê Văn Tưởng) trực chiến ở đầu Bắc, biên đội 4 chiếc của Tâm, Sơn c, Phúc, Oánh (Phạm Ngọc Tâm, Phạm Hùng Sơn, Nguyễn Văn Phúc và Lê Đức Oánh) trực chiến ỏ đầu Nam, nhận nhiệm vụ hiệp đồng tác chiến cùng với lực lượng MiG-21 bảo vệ nhà máy thủy điện Thác Bà và sân bay Yên Bái. Các biên đội đã xuất kích chiến đấu, không chiến với bọn địch ngay trên đỉnh sân bay ở độ cao thấp. Cho dù lực lượng của địch đông và chủ động khống chế hai đầu loa cất hạ cánh ỏ hai đầu đường băng, nhưng các phi công ta đã dũng mãnh lao vào trận không chiến với sự tấn công quyết liệt, táo bạo. Trong trận không chiến này, Nguyễn Văn Phúc và Lê Văn Tưởng đã lập công, mỗi người hạ gục một F- 4 của Không quân Mỹ.

Tiếp đến ngày 12 tháng 5 năm 1972, bọn địch thay đổi cách đánh, sử dụng các máy bay tiêm kích khống chế trên sân bay và dùng lực lượng cường kích ném bom đánh phá sân bay nhằm không cho lực lượng trực ban chiến đấu tại sân bay cất cánh lên được. Ngày ấy trực chiến ỏ đầu Bắc là biên đội Tâm, Long (Phạm Ngọc Tâm và Nguyễn Thăng Long), biên đội trực ở đầu Nam là Sơn A, Tản (Nguyễn Hồng Sơn và Vũ Viết Tản). Biên đội của Tâm, Long lập tức lên quần nhau với địch bất phân thắng bại và sau trận không chiến thì biên đội Tâm, Long phải về sân bay Đa Phúc hạ cánh. Tiếp đến là biên đội Sơn A, Tản cất cánh lên gặp ngay một tốp F-4 bay từ phía Tây Bắc vào đầu Bắc sân bay, các anh đã vứt thùng dầu phụ và giao chiến. Tiếng gầm rú của các loại máy bay cùng tiếng nổ của các loại vũ khí trên máy bay bắn ra trong quá trình không chiến... khuấy động vùng tròi Tây Bắc...

Trên đây chỉ là sơ qua vài trận không chiến trong rất nhiều trận không chiến của Trung đoàn. Thời gian đó, tại sân bay Yên Bái không chỉ có lực lượng của Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 mà còn có cả lực lượng cơ động của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921... Hai loại máy bay đã hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với nhau suốt giai đoạn dài của cuộc chiến tranh. Vậy là, tại khu vực Đồi Cọ, các phi công tiêm kích MiG-21 và MiG-19 đã cùng sát cánh trong chiến đấu và trong cuộc sống thường nhật. Tôi cũng đã từng được nhận nhiệm vụ cơ động lên sân bay Yên Bái trực chiến, từng chung sống với các phi công MiG-19, hòa nhập với nếp sinh hoạt chung của các anh, cùng hiệp đồng chiến đấu, cùng sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn với các anh suốt trong thời gian chiến tranh... Sân bay Yên Bái cũng đã để lại trong tôi những dấu ấn sâu đậm, những kỷ niêm thật khó quên trong những tháng năm chống Mỹ.

Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 đã nhận và hoàn thành nhiều nhiệm vụ được giao, đã tham gia nhiều trận không chiến, đã trải qua chặng đường chiên đấu, có bề dày thành tích trong cuộc chiến tranh chống Không quân Mỹ đánh phá ra miền Bắc Việt Nam. Và rồi, sau chiến tranh, vào năm 1979, như người xưa nói: “Vật đổi, sao dời!”, Trung đoàn không còn nằm trong biên chế của Sư đoàn và không còn phiên hiệu nữa. Trung đoàn giải thể nhưng sân bay Yên Bái vẫn còn đó, vẫn cần sự hoạt động của những “cánh én bạc” và vùng tròi Tây Bắc của Tổ quốc vẫn cần những dũng sĩ canh trời.

Vào một ngày cuối tháng 8 năm 1979, khi ấy tôi đang giữ cương vị Tham mưu phó tác chiến của Trung đoàn Không quân 927, tôi được Tư lệnh Sư đoàn (hồi ấy, Sư đoàn trưởng được gọi là Tư lệnh Sư đoàn) triệu tập về Sư đoàn nhận nhiệm vụ. Cùng về nhận nhiệm vụ với tôi có anh Trương Tôn - Tham mưu phó Trung đoàn Không quân 921 và anh Trần Xuân Tùng - phó chính ủy Trung đoàn không quân 927.

Trong cuộc họp, Tư lệnh Phạm Thanh Ngân giao nhiệm vụ cho ba anh em chúng tôi với nội dung rất ngắn gọn:

- Hiện nay do nhu cầu cần phải thành lập thêm một Trung đoàn Không quân tiêm kích nữa. Các cậu sẽ nhận nhiệm vụ với tư cách là các cán bộ Trung đoàn!

Tôi được cử làm Trung đoàn phó phụ trách chung, tức là Quyền Trung đoàn trưởng (và cái “Q” ấy đến tận lúc tôi rời khỏi Trung đoàn vẫn giữ nguyên, không “cắt Q” - như các anh em vẫn thường nói đùa với nhau), anh Trương Tôn là Trung đoàn phó phụ trách công tác quân sự, anh Trần Xuân Tùng là Quyền Chính ủy Trung đoàn.

Trung đoàn phó kỹ thuật do anh Nguyễn Quang Tấn đảm nhận, nhưng hôm giao nhiệm vụ, anh Tấn vắng mặt có lí do, không đến dự được. Anh Tấn sẽ về Trung đoàn gặp chúng tôi sau.

Tư lệnh Sư đoàn giao cho chúng tôi chọn ngày ra mắt Trung đoàn (ngày thành lập Trung đoàn). Ba chúng tôi hội ý với nhau: bây giờ đã là cuối tháng 8, đầu tháng 9 này có ngày 2 tháng 9 là ngày Quốc khánh, ngày khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, một ngày rất có ý nghĩa trong tâm thức của mọi con dân nước Việt, chi bằng ta cũng lấy ngày đó là ngày thành lập Trung đoàn là có ý nghĩa nhất.

Sau khi thống nhất ý kiến, chúng tôi báo cáo và được chấp thuận.

Vậy là ngày thành lập Trung đoàn đã được ấn định là ngày 2 tháng 9 năm 1979 với phiên hiệu Trung đoàn Không quân 931. Căn cứ đóng quân: Đồi Cọ. Sân bay hoạt động: Yên Bái.

Thực ra, từ ngày 13 tháng 7 năm 1979, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định thành lập Trung đoàn Không quân 931 rồi và cho đến tận ngày 10 tháng 11 năm 2004, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân mới ký quyết định lấy ngày truyền thống của Trung đoàn 931 thuộc Sư đoàn 371 là ngày mồng 2 tháng 9 năm 1979.

Tối ngày mồng 7 tháng 9 năm 1979, quyết định thành lập Trung đoàn đã được công bố tại Hội nghị cán bộ của Trung đoàn: tôi với cương vị Trung đoàn phó - quyền Trung đoàn trưởng, anh Trương Tôn với cương vị Trung đoàn phó quân sự kiêm Tham mưu trưỏng, anh Nguyễn Quang Tấn với cương vị Trung đoàn phó kỹ thuật, anh Trần Xuân Tùng với cương vị quyền chính ủy Trung đoàn, anh Nguyễn Văn Mại với cương vị Tham mưu phó Trung đoàn... Sang ngày mồng 8 tháng 9 năm 1979 tôi nhận được quyết định Trung đoàn phó Trung đoàn 931.

(Anh Trần Xuân Tùng ở với chúng tôi không được lâu, sau hơn một năm là đã rời khỏi Trung đoàn về Sư đoàn nhận nhiệm vụ mới. Anh Nguyễn Văn Mại đến năm 1981 chuyển về cơ quan Quân chủng. Anh Trương Tôn thì “bám trụ” cho đến năm 1988. Tôi và anh Nguyễn Quang Tấn cũng chỉ gắn bó trực tiếp với Trung đoàn cho đến năm 1982 rồi cũng chuyển về Sư đoàn).

Trung đoàn được biên chế 1 phi đội bay, gọi là Phi đội 1, giao cho anh Trần Tuấn Việt làm Phi đội trưởng, anh Nguyễn Ngọc Chân phụ trách công tác kỹ thuật của Phi đội sau khi anh Hải về nhận nhiệm vụ ỏ đơn vị mới và anh Phạm Văn Chấn phụ trách Chính trị của Phi đội.

Chúng tôi nhận lệnh phải hành quân về ngay Trung đoàn mới. Tôi đề nghị cho tôi về Kép lấy tư trang rồi lên Yên Bái sau, nhưng không được chấp nhận. Tư lệnh nói:

- Sẽ có người chuyển lên cho cậu!

- Nghe tốt! - Tôi trả lời.

Vậy là tôi theo xe của Sư đoàn ngược Yên Bái luôn.

Con đường lên Yên Bái vào những năm 1979 khác xa so với con đường thời bây giờ. Nếu bây giờ xe chạy từ Hà Nội lên Yên Bái chỉ mất vài tiếng đồng hồ thì hồi đó, từ Sư đoàn lên cũng đã mất cả ngày giời. Thuở ấy, cây cối còn um tùm, những bụi tre, bụi nứa mọc sít nhau, xòa ra gần như che kín đường. Đường thì nhỏ, quanh co, đầy những “ổ gà, ổ trâu, ổ voi”... Lâu lắm mới gặp một nhà dân nép ỏ ven đường, khuất dưới những lùm cây, cảnh như trong những bức tranh cổ. Sau này, khi về Sư đoàn họp, có anh hỏi tôi:

- Đưòng lên Yên Bái thế nào?

- Anh hãy cứ tưởng tượng cái mồm con khủng long nó há ra với những hàm răng lỏm chỏm như thế nào thì con đường lên Trung đoàn của tôi đúng hệt như thế! - Tôi minh họa.

- Thật khủng khiếp! - Anh nhún vai.

Mà đúng là khủng khiếp thật. Từ hồi còn nhỏ, tôi đã được nghe:

“Lại nghe nói Lào Cai, Yên Bải
Mấy muôn người xẻ núi, khơi sông
Độc thay lam chướng ngàn trùng
Sông sâu bỏ xác, hang cùng chất xương...”


Những câu thơ xưa làm ta cảm thấy rùng mình và nghĩ đâu hai địa danh đó ỏ rất gần nhau. Những địa danh ấy luôn gắn với rừng thiêng, nước độc, với những sự huyền bí của nơi thâm sơn cùng cốc, với những bệnh sốt rét, vàng da, ma xó, bùa ngải... và bao nhiêu thứ ghê gớm khác nữa.

Chiếc xe cà tàng chở chúng tôi đi mãi, đi mãi... càng đi càng thấy heo hút. Đầu tiên mọi người còn hăng hái sôi nổi nói chuyện, cười đùa... nhưng càng về sau càng thấy im dần, im dần... Không ai nói vói ai câu nào, phần vì đưòng xa mệt mỏi, phần vì mỗi người đều theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Riêng tôi khi ngồi lắc ngang lắc dọc theo nhịp xe thì cứ mường tượng cảnh trong truyện “Thủy hử" với các hảo hán của Lương Sơn Bạc khi chưa đến với Lương Sơn đều bị thích chữ vào mặt giải đi xuyên rừng xuyên núi, có lẽ con đường chắc cũng cô quạnh như thế này... Rồi lại cảnh thày trò Đường Tăng đi lấy kinh trong "Tây du ký” nữa, cũng con đường dài heo hút thế mà thôi, yêu quái sẽ xuất hiện ở đoạn nào nhỉ... Kia có phải là động Bàn Tơ vói lũ yêu nhền nhện không?... Rồi nghĩa quân của “Việt Nam Quốc Dân Đảng” mà lãnh tụ là Nguyễn Thái Học đã chuẩn bị cho cuộc khỏi nghĩa Yên Bái sau bao ngày vất vả, gian nan... Như nghe được cả tiếng súng, tiếng bom khi nghĩa quân đánh đồn Yên Bái hôm mồng 10 tháng Hai năm 1930 với các lá cờ Đảng màu đỏ sao vàng bay phấp phới và đoàn nghĩa quân tay đeo băng “cách mạng quân” lao lên đánh đồn giặc... Rồi cảnh tượng 17 nghĩa quân trong số 44 nghĩa quân tham gia khỏi nghĩa Yên Bái bị hành hình trên máy chém, nối nhau ra pháp trường gồm:

Nguyễn Thái Học
Phó Đức Chính
Bùi Chí Toàn
Đào Văn Nhật
Nguyễn Văn Tiềm
Hà Văn Lao
Bùi Văn Chuân
Nguyễn Văn Thịnh
Nguyễn An
Nguyễn Văn cửu
Nguyễn Như Liên
Ngô Văn Dư
Đỗ Văn Tư
Đặng Văn Lương
Đặng Văn Tiếp
Nguyễn Văn Thuyết
Ngô Hải Hoàng


Tiếng họ hô vang: “Việt Nam vạn tuế!” như còn vang đâu đây. Rồi cả tiếng Nguyễn Thái Học sang sảng đọc mấy câu thơ của Pháp bằng tiếng Pháp khi ra pháp trường:

“Mourir pour sa patrie
ơest le sort lephis beau...”

(Tạm dịch là:
Chết vì Tổ Quốc
Cái chết vinh quang
Lòng ta sung sướng
Trí ta nhẹ nhõm...)

Và câu nói bất hủ của Nguyễn Thái Học từng được tồn tại qua bao thế hệ: “Không thành công cũng thành nhân!”. Rồi tôi lại nhớ đến mối tình tuyệt đẹp của Nguyễn Thái Học với người bạn gái, ngưòi đồng chí Nguyễn Thị Giang khi họ đi bên nhau giữa cảnh núi rừng trùng điệp của khu Đền Hùng, nhớ đến câu thơ Nguyễn Thị Giang đã đọc cho Nguyễn Thái Học nghe:

“Trời cao bể rộng đất dày
Sông Thao núi Tản chốn này làm ghi...”


Rồi bỗng những câu thơ trong bài ‘Tây nến” lại vang bên tai tôi:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm...”


Thế hệ của nhà thơ Quang Dũng đã chinh chiến vượt “sông Mã gầm lên khúc độc hành”, để lại bao dấu ấn chói lọi cho bao thế hệ phải noi theo, còn mấy anh em chúng tôi thì bây giờ lại đang “Tây Bắc tiến”, theo đường số 2, chạy ngược ven sông Hồng.

Tất cả cứ như những thước phim được tua nhanh, đi ngược thời gian vậy. Tôi lẩm nhẩm câu hát của nhạc sĩ Văn Cao: “Ôi còn đâu đây sắc chàm pha màu gió...”. Càng về chiều trời càng âm u, cảnh vật cũng sẫm dần. Lâu lâu mới thấy mấy sợi nắng nhàn nhạt chiếu qua các kẽ lá. Đã thấy những vạt sương mỏng manh giăng ngang các rừng cây, bay bay nhẹ như tơ. Những làn gió bất chợt đến làm cho cây rừng nghiêng ngả, các khóm tre, khóm nứa, những bụi lau sậy xòa xuống che kín mặt đường. Thảng hoặc, một tiếng chim “bắt cô trói cột” hay “khó khăn khắc phục”... vang lên phía bìa rừng xóa tan không khí lặng lẽ của chốn sơn lâm. Mấy con khướu nô đùa quanh các lùm cây ồn ã một lúc rồi im bặt, kết thúc bản hòa tấu của miền sơn cước. Rừng lại lặng lẽ với chiều sâu bí hiểm của mình. Tôi ngồi không yên, ngọ nguậy nhìn ngó hết phía này đến phía khác. Sân bay Yên Bái thì tôi đã từng cơ động lên đó để trực ban chiến đấu rồi, đã từng ăn một cái Tết, từng đi bắn chim, bắn quạ về nướng. Nhắc đến quạ thì phải nói là những năm 69, 70 quạ đen, quạ khoang ỏ sân bay Yên Bái nhiều vô kể. Chúng đỗ hàng đàn đen ngòm cả một khu ở trên đường băng và tiếng kêu của chúng khi chúng cất cánh lên thì náo loạn cả một vùng. Tôi và anh Trần Ngọc Nhuận đã từng bắn quạ về nướng, lừa anh Nguyễn Cát A và Trần Thông Hào, nói đấy là thịt gà nước, mấy anh tưỏng thật, ăn và khen ngon đáo để, nhưng mà đến bây giờ thì chúng biến đi đâu hết cả, bói cũng chẳng ra được một con. Chúng đã bị tiêu diệt hết trong những tháng năm chiến tranh, bị bom đạn xóa sổ, hay đã được “điều động” lên bắc cầu qua dải sông Ngân Hà giúp cho vợ chồng Ngâu qua sông gặp nhau? Chẳng ai biết được sự thể thế nào! Mà rồi, vợ chồng tôi thì cũng có khác gì vợ chồng Ngâu đâu. Cưới xong được mấy ngày thì tôi lại đi biệt, hai năm sau mối quay về. Rồi tôi lại ở tận Kép, vợ thì “hạ sơn” xuống học ở Đa Phúc, rồi tôi tham gia chiến tranh ỏ biên giới phía Bắc, rồi lại ngược Yên Bái đây, có mấy khi được gặp nhau, ở với nhau liên tục với thời gian dài dài đâu...

Thực ra, đi đường bộ từ Sư đoàn lên Yên Bái thì tôi mới đi đây là lần đầu. Không, là lần thứ hai thì đúng hơn. Lần đầu tiên là sau khi tôi nhảy dù xuống xã Liên Hoa, Phù Ninh vào ngày 12 tháng 8 năm 1972 trong một trận không chiến với bọn F-4, xe của Trung đoàn 925 đã về Phú Thọ đón tôi lên Yên Bái để từ đó ngày hôm sau trực thăng đưa tôi về Gia Lâm. Ngày đó tôi không quan sát gì được ở hai bên đường cả vì các anh ấy bắt tôi phải nằm bất động (sợ sau khi nhảy dù bị chấn thương cột sống) thì lần này cũng có thể coi là lần đầu cũng được. Xe cứ chạy, cứ nhảy chồm chồm qua các “ổ gà, ổ trâu”..., ý nghĩ của tôi cũng cứ nhảy nhót theo nhịp xóc của xe, cái nọ xọ ra cái kia, chẳng tập trung được, cứ nát vụn ra...

“Rừng cọ, đồi chè đồng xanh ngào ngạt. Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát. Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca”... những câu thơ trong sách văn học của thòi học trò xưa lại văng vẳng đâu đây. Sao mà lãng mạn thế, sao mà đẹp đến thế, mà nên thơ đến thế!... Thực tại bây giờ sao khác xa đến thế! Hay là qua từng ấy năm tất cả đều đã cằn khô, thiên nhiên không còn tíu đãi như cái thuở nguyên sơ nữa. Hay là nhà thơ đã “chộp” được những khoảnh khắc tuyệt vời ấy ỏ đâu đó, đưa vào đây để khắc họa lại cảnh đẹp của núi rừng miền Tây Bắc này. Trong đầu tôi ngổn ngang bao ý nghĩ: Bao giờ mới đến được Trung đoàn nhỉ? Tôi được thừa hưởng mảnh đất với truyền thống chiến đấu của một Trung đoàn đàn anh đã từng tham gia cả trăm trận không chiến, từng bắn hạ cả chục máy bay của lực lượng Không quân Mỹ trong giai đoạn chiến tranh, cho dù Trung đoàn ấy đã giải thể, đã không còn nằm trong biên chế của Sư đoàn nữa và rồi Trung đoàn mới của tôi sẽ hoạt động thế nào đây, có lập được các thành tích như các bậc đàn anh hay không và rồi liệu sau mươi năm có lại giải thể theo các anh ấy không tựa như một cái “dớp” không? Các cán bộ, chiến sĩ của tôi sẽ thế nào? Những gì nên bắt đầu, những gì sẽ tiếp theo?...

Tôi không thể mường tượng được khung cảnh khi tôi đến Trung đoàn và cũng không tưởng tượng được nổi những khó khăn mà Trung đoàn sẽ gặp phải nay mai.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn