CẢM HOÀI MỘT THỜI HOA LỬA
CẢM HOÀI MỘT THỜI HOA LỬA
Bức ảnh gợi cho mình nhiều dư ba, cơ mà không biết phải dùng lời lẽ thế nào để diễn tả…
Hai hàng ghế, cũng là hai thế hệ,
Người trước trồng cây, người sau hưởng bóng mát,
Lịch sử là những nấc thang được xây nên từ máu, tuổi xuân và hoài bão…
Bất chợt, mình nhớ đến những câu thơ của Thanh Thảo:
“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
(Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc)
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?”
(Khúc bảy)
Một chiều đông năm 2025, mình có dịp đến tham quan Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam - nơi lưu dấu những chiến tích hào hùng trải ngàn đời của cha ông.
Hàng cờ Tổ quốc đứng thẳng, phấp phới tung bay dưới bầu trời độc lập. Tháp Chiến Thắng
sừng sững, kiêu hãnh ngân khúc Khải hoàn ca. Súng thần công, pháo cao xạ, xe tăng, tiêm
kích… tất thảy là những chứng nhân kỳ vĩ của một thời lửa đạn oanh liệt. Bảo tàng tọa lạc
nơi thủ đô nghìn năm văn hiến - phố thị phồn hoa, thịnh trị thái hòa. Lòng hiếu khách và
nét cười chan hòa của những người con đất Hà Thành xưa nồng hậu chào đón đồng bào
trên khắp mọi miền Tổ quốc về với thủ đô máu thịt.
Nhưng quang cảnh hẳn là khác vào một chiều đông, bất kỳ một chiều đông nào trước năm
75 của thế kỷ trước. Bầu trời có lẽ vẫn cao và rộng, chỉ là khói bụi mịt mờ, lửa đạn chằng
chịt, không khí ngập ngụa mùi thuốc súng, mùi bom mìn, mùi chết chóc… Cơm không đủ
ăn, áo không đủ mặc, thuốc không đủ dùng.
Trong cái hiểm ác và nguy khốn tột cùng của chiến tranh, có người phải ăn rắn sống cầm
hơi; có người ghẻ lở mọc đầy mình; có người phải cưa chân mà không được tiêm thuốc gây mê; có người trốn chạy; có người hóa điên; có người giơ hai tay ra hàng giặc – bán rẻ nhân tính, bán đứng đồng bào, phản bội tổ chức; có người chịu nỗi oan phản quốc mấy mươi năm - “đơn thương độc mã” nằm trong lòng địch; cũng có người đến chết vẫn đau đáu quyết tâm “đền nợ nước, trả thù nhà”…
không có khoảng trời nào cho ước mơ, khát vọng,
không có cái kết nào cho tình yêu đôi lứa,
không có lối thoát nào cho những mưu cầu hạnh phúc riêng tư,
Đó là sự tàn khốc đến cùng kiệt của chiến tranh - bất kể với quân ta hay là với quân thù; bất kể phe chiến thắng hay là phe chiến bại. Mình đứng bần thần trước một xác máy bay, xác máy bay B-52G bị tiểu đoàn tên lửa của ta bắn trúng và rơi xuống cánh đồng Chuôm của Hà Nội. Với ta, đó là một chiến tích vẻ vang. Nhưng với không quân Hoa Kỳ được trang bị thứ vũ khí tối tân hiện đại bậc nhất, đó lại là một thảm bại ê chề. Tự sâu trong tâm khảm, lính Mỹ có bằng lòng rời bỏ vợ con, gia đình, trường học… để xâm chiếm một đất nước xa lạ, tước đoạt đi quyền sống, quyền tự do của những con người xa lạ, để rồi thậm chí bỏ mạng ở một vùng đất hoàn toàn xa lạ chăng? Hay thực chất họ cũng chỉ là những quân tốt mở lối cho thứ dã tâm tanh bẩn, tàn độc, mượn vỏ bọc “chính nghĩa” nhằm bá chủ một thế giới đơn cực? Và họ có cam lòng làm những con tốt thí mãi? Câu trả lời là “Không” - chính những người phản chiến đã diễu hành trên đường phố Mỹ, chỉ trích cuộc chiến phi nghĩa dưới vỏ bọc “hòa bình” - sự bất nhân không ngụy trang được mãi! Khơi dậy không phải để oán thán, nhắc lại không phải để khắc sâu thêm những nghi kỵ, hờn căm. Chỉ là “lịch sử đất nước được viết bằng xương máu, nếu lãng quên phải dùng máu để học lại”.
Có những trang sử được viết từ bùn và máu, có những cuộc đời như những đóa hoa. “Nước chảy đá mòn”, “tre già măng mọc”, tiền nhân - hậu thế - “sự nối tiếp vĩnh cửu” của lòng yêu nước và bản lĩnh bất khuất, bất diệt:
“Dưới bóng tiền nhân
Ngẩn ngơ tôi ngồi đếm tuổi mình
Cái nhỏ nhoi bên tầm cao lịch sử
Những chiến tích như cũng thành cổ thụ
Rợp mát sự bình yên
[...]
Tôi ngồi đếm những chiếc lá vàng
Tôi ngồi đếm những chiếc lá xanh
Chẳng thể nào đếm hết sự nối tiếp vĩnh cửu”
(“Bên cây me cổ thụ ở bảo tàng Quang Trung” - Võ Công Lâm)



