Anh hùng Lực lượng vũ trang

Cảm tử quân Uông Xuân Lý, vì sao không được phong Anh hùng?

Hưng Yên01/12/2025QUANG LONG (BÁO TIỀN PHONG)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 3 năm 1968, địch mở đợt oanh kích đầu tiên tại Ngã ba Đồng Lộc. Lòng chảo yên bình, nơi có đường mòn Hồ Chí Minh đi qua, chìm trong khói bom và thuốc súng. Cuộc chiến chống Mỹ bước vào thời điểm ác liệt nhất.

Đang làm đường ở huyện Kỳ Anh, đội cơ giới do đội trưởng Uông Xuân Lý phụ trách lập tức được điều động ra “tọa độ lửa”. Ông và đồng đội biết rõ tính chất nguy hiểm khi lao vào điểm nóng Ngã ba Đồng Lộc. Có thể, đây sẽ là cuộc ra đi không trở lại, sẽ vĩnh viễn nằm xuống trong cuộc chiến cam go, khốc liệt này.

Sinh năm 1940. Tuổi thanh niên, Uông Xuân Lý vướng vào một cuộc hôn nhân. Bố ông, vì giữ lời hứa với một người bạn tâm giao, đã cưới con gái bạn cho con trai mình, dù người đó Uông Xuân Lý không hề yêu. Thậm chí trước ngày cưới, cô dâu, chú rể chưa hề gặp mặt nhau. Phải chung sống với nhau mà không có tiếng nói chung, quả là một cực hình!

Cái thời “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”, ly hôn là điều khó khăn. Vả lại, đất nước đang có chiến tranh, lũ trai làng nô nức xung phong ra tiền tuyến đánh giặc, chẳng lẽ đời mình lại giam hãm trong gia đình bé nhỏ? Ông Lý nghĩ vậy và xin đi bộ đội. Thấp bé nhẹ cân, bị loại.

Năm 1960, vào học trường cơ giới Hoà Bình, sau đó đi làm đường ở vùng Tây Bắc, Thượng Lào; Rồi chuyển về khai phá đường tránh khu vực Thuỷ điện Thác Bà. Năm 1966, Uông Xuân Lý được điều động về Nghệ An. Ông và các đồng đội tham gia mở cây số đầu tiên của đường mòn Hồ Chí Minh tại huyện Tân Kỳ. Đến năm 1967, ông trở về Hà Tĩnh.

Không thể chung sống với một người mà mình không yêu và không muốn giam hãm mình trong cuộc sống tù túng, Uông Xuân Lý cất bước ra đi. Người vợ sau đó đã “đi thêm bước nữa” với người đàn ông khác.

Làm lễ truy điệu sống trước khi vào “cửa tử”

Địch ráo riết đánh phá Ngã ba Đồng Lộc, hòng cắt đứt sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam. Từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1968, trong sáu tháng liền, “tọa độ lửa” chẳng mấy khi dứt tiếng bom rền, đạn nổ.

Dưới tầm bom đạn, tiểu đội TNXP và đội cơ giới Ngã ba Đồng Lộc vẫn luôn siết chặt tay nhau, đồng cam cộng khổ để hoàn thành sứ mệnh chung: san lấp hố bom, rà phá bom mìn, thông đường cho xe ra tiền tuyến. Cái chết luôn treo lơ lửng trên đầu.

Ngày 13/6/1968, đoàn xe vận tải gồm 100 chiếc chở lương thực, đạn dược men theo đường mòn Hồ Chí Minh vào miền Nam. Mục tiêu bị lộ, địch đón đánh ráo riết tại cung đường Truông Bồn - Ngã ba Đồng Lộc.

Đầu giờ chiều cùng ngày, máy bay Mỹ rải một loạt bom từ trường và bom nổ chậm xuống Đồng Lộc, lực lượng trinh sát phát hiện quả bom chưa nổ nằm dọc đường mòn. Chủ tịch tỉnh hạ lệnh: “Phải tìm cách vô hiệu hoá quả bom, giải phóng mặt đường, thông xe vào đêm 13/6!”.

Nhiệm vụ hết sức cấp bách nhưng vô cùng nguy hiểm. Lúc đó, đội cơ giới Ngã ba Đồng Lộc được cấp trên “ưu tiên” cho lắp một chiếc máy điện thoại, mọi tình huống khẩn cấp có thể báo ngay về tỉnh.

Qua đường dây liên lạc này, Uông Xuân Lý có cuộc điện đàm với ông Trần Quang Đạt- Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh lúc đó (nay ông Đạt đã mất): “Anh Vương Đình Nhỏ đã tổ chức rà phá rồi, nhưng không thành! - ông Lý báo cáo - Giải pháp cuối cùng là phải dùng máy để ủi bom ra khỏi khu vực xe qua, có thể phải hy sinh máy!”.

Sau một lúc im lặng, ông Đạt hỏi: “Trong tổ cơ giới, ai xung phong nhận nhiệm vụ này?”. “Tôi xin đi!”. “Có nguy hiểm quá không?”, ông Đạt cân nhắc. “Tôi biết là rất nguy hiểm, nhưng không còn cách nào khác thưa Chủ tịch. Tôi chết chẳng sao. Anh em cùng tổ công tác với tôi, hầu hết đã có gia đình, có người là bố của 2- 3 con nhỏ; Có người là con trai độc nhất trong gia đình, đừng để họ phải ra đi!”.

Xe ra tiền tuyến (ảnh tư liệu)

Xe ra tiền tuyến (ảnh tư liệu)

Uông Xuân Lý bám chặt lấy ống nghe, chờ đợi mệnh lệnh từ thượng cấp. Trong đời, chưa bao giờ ông trải qua những giây phút căng thẳng, hồi hộp như lúc này. Ngoài trời nắng như thiêu đốt, gió Lào như phả ra từ lò lửa hun nóng vùng lòng chảo.

Một phút, hai phút im lặng, chợt đầu dây bên kia giọng nói chùng xuống: “Thôi được, giao việc này cho cậu. Hãy cẩn thận nhé!”. “Vâng! Tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ, tôi sẽ trở về!”.

Đoạn đường bị xới tung lên sau đợt đánh phá của máy bay giặc Mỹ, hố bom san sát hố bom. Đâu đây, tiếng gà gáy gẫu hứng trong chiều vẳng lại; Mặt trời nấn ná trên đỉnh núi như chưa muốn vào hoàng hôn. Có thể, đây là buổi chiều cuối cùng ông đứng trên mảnh đất quê hương. Xung trận lần này, mười phần thì có chín phần chết, một phần sống.

Trở về “đơn vị”, nơi chỉ có tấm vải bạt màu xanh nấp dưới lùm cây, Uông Xuân Lý tập hợp đồng đội và truyền đạt chỉ thị của cấp trên. Mọi người nhìn ông, ái ngại. Ai cũng lo lắng.

Nếu chẳng may bom nổ, Uông Xuân Lý hy sinh, họ không những mất đi một đồng đội “tâm đầu ý hợp”, mà còn mất một vị chỉ huy kiên cường, quả cảm. Trước khi bước vào “trận đánh”, ông bảo mọi người căng cờ, làm lễ truy điệu sống.

Dưới lá cờ Tổ quốc, Uông Xuân Lý nhận nhiệm vụ, thề quyết tâm hoàn thành công việc được tập thể giao phó. Ông nói: “Nếu tôi chết, các đồng chí đừng vội báo về cho gia đình. Mẹ tôi già yếu, sợ bà không chịu nổi tin mất con. Hãy đợi đến lúc nào đó thích hợp mới báo tin cho mẹ tôi!”.

Uông Xuân Lý nhảy lên máy ủi. Mọi người tiễn ông, họ khóc oà lên. Con bài số 1 của ngành giao thông Hà Tĩnh, người lính cảm tử của Ngã ba Đồng Lộc đang bước vào tọa độ lửa! Để đảm bảo an toàn, đồng đội bố trí 2 đầu đường 2 tổ mang súng trường đứng gác. Khi máy bay địch ập đến, họ sẽ bắn súng báo hiệu cho ông rút lui.

Tiếng máy nổ âm vang. Uông Xuân Lý đẩy cần lái, khối sắt nặng hàng chục tấn chầm chậm tiến lên phía trước, trực hướng đường mòn Hồ Chí Minh và tiếp cận khu vực có quả bom.

“Thần chết” đang nằm khuất đâu đó trong vùng đất đá ngổn ngang, chưa xác định được vị trí. Nó có thể án ngữ ngay mặt đường, cũng có thể nằm kề miệng một hố bom khác, hoặc cắm sâu trong lòng đất.

Vấn đề khó khăn nhất là tìm được “kẻ giấu mặt lạnh lùng”, đẩy nó ra xa đường mòn, trong khi vẫn bảo đảm tính mạng của người lẫn máy. Nguy hiểm hơn, người lính cảm tử không xác định được thời điểm quả bom sẽ phát nổ.

Hết tiến lại lùi, chiếc máy ủi phủ đầy bụi đất, mồ hôi ướt đẫm cả vạt áo nhưng hơn 30 phút trôi qua ông Lý vẫn chưa tìm thấy quả bom nằm ở đâu. Chợt ba phát súng trường vang lên, cảnh giới bắn báo hiệu có máy bay địch ập đến.

Ông lùi máy vào điểm trú ẩn, chờ cho phi cơ địch lướt qua mới trở lại hiện trường, tiếp tục phần việc của mình. Ánh pháo sáng lơ lửng trên đầu soi tỏ từng gốc cây, ngọn cỏ. “Cảm tử quân” Uông Xuân Lý tranh thủ ánh đèn làm nhanh.

Một tiếng đồng hồ nữa trôi qua, vẫn chưa tìm thấy quả bom. Đồng đội có người xung phong đề nghị thay ca, nhưng Uông Xuân Lý từ chối. “Sẽ ổn thôi, không sao đâu!”, ông nói.

“Thường thì, bom phát nổ khi có vật kim loại lướt qua. Lúc mình lấn tới, nó chưa nổ được đâu!”, kinh nghiệm mách bảo phải chậm rãi trong lúc tiến và chớp nhoáng trong khi lùi. Vì thế, khi tiến lên phía trước, ông có thể ngồi ngay ngắn trên ghế; Nhưng cài số lùi thì phải cúi xuống. Hết ngồi lại cúi, hết cúi lại ngồi, động tác này lặp đi lặp lại đến cả trăm lần khiến cơ bắp ông mỏi mệt rã rời. Mồ hôi đầm đìa. Thần kinh căng lên như dây đàn.

Tuần trước, hai đồng đội của ông trong khi vận hành máy ủi trúng bom từ trường. Bom nổ, cả người lẫn máy bị hất tung lên không trung hàng chục mét. Chết.

Uông Xuân Lý nghĩ tới điều tồi tệ nhất có thể xảy ra với mình, nhưng lúc này ông chẳng thấy sợ sệt gì nữa. Nhiệm vụ giải phóng mặt đường, thông xe ra tiền tuyến như một mệnh lệnh thúc giục ông phải giữ vững tay lái.

Bỗng nghe “kịch” một tiếng. Linh cảm đã va vào quả bom, Uông Xuân Lý tiếp tục thẳng tiến, đẩy nó ra phía bờ ruộng, cách đường mòn khoảng 30m và tìm cách thoát hiểm. Ông cài số lùi, cúi xuống sát cabin và đạp hết ga. Thoát khỏi “cửa tử”, Uông Xuân Lý ngất lịm trên vô lăng.

Đồng đội ào đến, dìu ông xuống. Họ đón một “cảm tử quân” trở về từ cõi chết.

Vì sao không được phong Anh hùng?

Sau nhiều năm chinh chiến trên đất Bắc, ông Lý trở về Hà Tĩnh và kết hôn cùng một nữ y tá TNXP tại Đồng Lộc và định cư ở tổ 2, phường Trần Phú, TP Hà Tĩnh. Họ sinh được 3 người con (2 gái, 1 trai). Cô con gái đầu lòng theo nghiệp của bố, hiện đang làm nhân viên hành chính tại Sở GTVT; Cô con thứ làm trong một doanh nghiệp sản xuất VLXD và cậu con út công tác tại Phòng Hậu cần, Công an Hà Tĩnh.

Không chỉ dừng lại ở hành động gan góc, quả cảm của lần phá bom năm nào, trong bản thành tích của ông còn nhiều chiến công khác. “Uông Xuân Lý xứng đáng được phong Anh hùng!”, nguyên Trưởng đảm bảo Ngã ba Đồng Lộc, Trưởng ty GT-VT Hà Tĩnh Nguyễn Đình Hiến nhận xét về thuộc cấp của mình.

Ông Hiến nói: “Hình như giữa ông Lý và đội trưởng đội cơ giới (người chỉ huy cũ) không “tâm đầu ý hợp”, có lẽ đó là lý do ông không được phong Anh hùng!”.

Cách đây khá lâu, cán bộ phụ trách thi đua - khen thưởng địa phương đến gặp Uông Xuân Lý để làm hồ sơ phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho ông. Họ điều tra lý lịch ròng rã mấy tháng trời, nhưng cuối cùng lại rơi vào im lặng...

Chỉ riêng nửa đầu năm 1968, giặc Mỹ đã trút xuống Ngã ba Đồng Lộc 4.200 quả bom phá, 12.000 bom từ trường, 96 bom bi mẹ các loại, 94 quả rốc két. Quân và dân ta đã bắn rơi 7 máy bay Mỹ, đảm bảo giao thông thông suốt, góp phần quan trọng để chi viện cho chiến trường. Cũng tại đây hàng trăm chiến sỹ bộ đội, thanh niên xung phong đã hy sinh anh dũng. Người ta đã thống kê được rằng, mỗi mét vuông ở Ngã ba Đồng Lộc phải gánh chịu ít nhất 3 quả bom tấn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn