Căng Bắc Mê – Chứng nhân lịch sử giữa đại ngàn Tuyên Quang
Căng Bắc Mê – Chứng nhân lịch sử giữa đại ngàn Tuyên Quang
Vùng đất ghi dấu những năm tháng đấu tranh kiên cường
Theo các tư liệu lịch sử, Căng Bắc Mê được thực dân Pháp xây dựng từ những năm 1939–1940 (những năm đầu thế kỷ XX) nhằm giam giữ, quản thúc các chiến sĩ cách mạng chưa bị kết án nhằm trấn áp và uy hiếp phong trào cách mạng. Căng Bắc Mê có diện tích khoảng 2.500m2, nằm ở vị trí hiểm trở, giữa rừng núi hoang vu, ba bề là núi đá, phía trước là sông Gâm – thuận lợi cho việc canh phòng, cô lập tù nhân. Nơi đây từng được ví như “địa ngục giữa đại ngàn”, bởi điều kiện sinh hoạt khắc nghiệt, khí hậu khắc khổ và sự giám sát tàn bạo của quân cai ngục.
Với hệ thống nhà giam, vọng gác, nhà làm việc, nhà thông tin, nhà kho… xung quanh có hệ thống tường thành bảo vệ kiên cố, xây dựng bằng đá tảng, dài khoảng 190m, cao 2m, dày 40cm; cứ 10m lại có một lỗ châu mai hình vuông. Khu nhà giam biệt lập, hoang vắng, được bao bọc xung quanh bởi những ngọn núi cao, rừng già và điều kiện khắc nghiệt của nhà tù đế quốc, nên tù nhân rất khó trốn thoát.
Trong hai năm 1940 – 1941, thực dân Pháp đã đưa hai đợt tù nhân về đây, với khoảng 300 người, trong đó có đảng viên Đảng Cộng sản và những chiến sĩ yêu nước bị bắt từ các nhà tù Sơn La, Phú Thọ, Hỏa Lò… lên đây để giam giữ. Trong đó có các đồng chí cộng sản tiêu biểu, có tầm ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng lúc bấy giờ như Xuân Thủy, Nguyên Hồng, Khuất Duy Tiến, Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam), Trần Cung (Nguyễn Ngọc Cư), Hoàng Bắc Dũng, Lê Giản, Đặng Việt Châu… Dù bị tra tấn dã man, gông cùm, xiềng xích nhưng các chiến sĩ cộng sản vẫn kiên trung, giữ vững khí tiết, âm thầm biến nhà tù thành “trường học cách mạng”. Trong bóng tối ngục tù, họ vẫn bí mật tổ chức học tập, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khích lệ tinh thần đấu tranh và hun đúc lòng yêu nước. Căng Bắc Mê vì thế không chỉ là nơi giam cầm, mà còn là ngọn lửa hun đúc ý chí cách mạng cho bao thế hệ chiến sĩ.



