Căng Đồn Nghĩa lộ - Dấu ấn lịch sử giữa Miền Tây Yên Bái
Chiến tranh đã qua đi nhưng ký ức về một thời bom rơi đạn nổ, về một thời hoa lửa thì vẫn mãi mãi còn đó. Và thời hoa lửa Yên Bái là một phần không thể thiếu trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Những câu chuyện về thời kỳ này đã trở thành truyền thuyết, được lưu truyền qua các thế hệ như một lời nhắc nhở về sự hi sinh và lòng yêu nước của người dân Yên Bái.
Nói về thời hoa lửa Yên Bái không thể không nhắc đến cuộc bạo động phá Căng của các chiến sĩ cộng sản chốn lao tù ngày 17/3/1945, nơi ghi nhận chiến công của quân và dân ta trong trận đánh Phân khu quân sự Nghĩa lộ của thực dân Pháp năm 1952, mở đường tiến vào chiến dịch Điện Biên phủ, giải phóng toàn Tây Bắc.
Từ "Căng" tiếng Pháp có nghĩa là "tập trung tù chính trị". Vào thời điểm năm 1944, phong trào cách mạng vùng căn cứ địa Việt Bắc dâng cao. Các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm trong nhà tù đế quốc luôn tìm cách vượt ngục ra ngoài hoạt động.
Trước tình hình đó, chính quyền thực dân có ý định chuyển số tù chính trị ở Căng Bá Vân (Thái Nguyên) đi nơi khác. Vì vậy, đầu tháng 2/1944, thực dân Pháp xây dựng kiên cố lại nơi giam tù ở đồi Pú Trạng (Nghĩa lộ) thành " Căng". Căng xây dựng vững chắc gồm 3 dãy nhà dài, 2 dãy để giam tù chính trị nam,1 dãy để giam các chiến sĩ nữ. 3 dãy nhà đó bị vây chặt bằng 3 lớp rào bằng cây tre, cây nứa cắm chéo nhau, có hào sâu bao quanh, dưới hào cắm chông. Bên ngoài là chạm gác lính khố xanh, vũ khí luôn sẵn sàng, do đích thân đồn trưởng người Pháp là Xi-vê (Civet) chỉ huy. Trong đội lính khố xanh này còn có viên Quản Nhượng, Đội Mai, Cai Trúc cai quản.
Đầu năm 1945, gần 100 chiến sĩ cộng sản bị thực dân Pháp xiềng xích, giải từ Bá Vân (Thái Nguyên) về Căng Nghĩa lộ, nói là đi "an trí" nhưng thực chất là chuyến đi giam cầm, đầy ải rất dã man ở nơi xa xôi, hẻo lánh Nghĩa Lộ. Trong thời gian ngắn nhiều đảng viên cộng sản bị tra tấn, đánh đập, có bệnh tật không được cứu chữa...
Dù trong ngục tù bị địch kiểm soát chặt chẽ nhưng các tù chính trị vẫn thành lập Chi bộ Đảng trong các trong Căng, thành lập ban lãnh đạo tối cao (gọi là ủy ban nhà tù) gồm: Phạm Quang Thẩm, Nguyễn sĩ Nghiêm, Nguyễn Văn Đối (sau này lấy tên hoạt động là Vương Thừa Vũ, là trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam), Trần Huy Liệu, Trần Đức Sắc. Ngoài ra, Căng còn có ban tuyên truyền, ấn loát, ban dịch - vận binh lương, ban tham mưu, ban y tế...
Các tù chính trị chọn các chiến sĩ trẻ, khỏe thành lập đội thường trực. Chi bộ ra một tờ báo lấy tên "Đường nghĩa "do đồng chí Trần Huy Liệu phụ trách.
Ngày mùng 9/3/1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp. Lính Pháp bại trận lũ lượt kéo nhau từ Yên Bái qua Nghĩa lộ, đi Gia Hội, Tú Lệ tìm đường sang Vân Nam, Trung Quốc. Nắm lấy thời cơ, ủy ban nhà tù quyết định đấu tranh vũ trang kết hợp với binh lính người Việt đã được giác ngộ thoát khỏi nơi giam cầm, trở về hoạt động.
Chi bộ nhà tù đã họp bàn, nhất trí lấy đêm 15/3/1945 tổ chức phá Căng. Theo kế hoạch cai Sinh, đã được các chiến sĩ cách mạng giác ngộ chờ cho đội Quản Nhượng ngủ, sẽ khóa cửa, nhốt lại. Cai sinh cùng binh sĩ đội ứng sẽ mở cửa Căng cho anh em ra nhận súng, rồi cùng nhau chiếm đồn. Nhưng đến đêm hẹn cai sinh bị điều đi công cán vắng. Chi bộ quyết định lui đến đêm 18/ 3/1945 mới khởi sự.
Chiều ngày 17/3/1945, tận dụng hỗn loạn khi viên phó sứ Pen-li-ê vào kiểm tra, họ phá rào thoát ra ngoài, nhiều người trốn thoát về căn cứ cách mạng, nhưng cũng có người bị bắt hoặc hy sinh. Khu mộ tập thể hiện lưu hài cốt của 9 chiến sĩ.
Tháng 10/1947, Pháp chiếm lại Mường Lò, đóng sở chỉ huy Phân khu Nghĩa lộ ở đây. Phân khu quân sự Nghĩa lộ gồm có: cứ điểm Pú Chạng ( còn gọi là Nghĩa lộ đồn Cao) nằm trên đồi Pú Chạng cao 250 mét án ngữ đầu phố trông xuống Nghĩa Lộ có 300 quân, gồm 8 lô cốt , 15 ụ súng, có hầm kiên cố là bãi mìn dày đặc; cứ điểm Nghĩa lộ (còn gọi là Nghĩa lộ đồn thấp), nằm ở Nghĩa lộ phố kiểm soát con người trong phố và cánh đồng Mường Lò rộng lớn nối với các vùng đất của huyện Văn Chấn, sân bay Nghĩa lộ có 500 quân đồn trú.
Tháng 9/1951, Đại đoàn 312 phối hợp tỉnh Yên Bái mở chiến dịch Lý Thường Kiệt. Đúng 4:00 sáng ngày 3/10/1951 đánh vào Nghĩa lộ, ta và địch đều bị thiệt hại. Các cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt ở ngay ngã tư gốc đa, ta diệt 2 sĩ quan Pháp và 1 trung đội địch, bên ta bị hy sinh 23 chiến sĩ.
Ngày 4/10/1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu. Ngay đêm đó, Trung đoàn 104 (đại đoàn 312) tiến công diệt vị trí Sài Lương, Trung đoàn 174 (đại đoàn 316) diệt vị trí đồn Ca Vịnh. Địch vội vàng giúp khỏi các đồn Ba Khe, Thượng Băng La hòng cứu nguy cho Nghĩa lộ.
17:05 ngày 17/10, Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) tiến công cứ điểm Pú Chạng, sở chỉ huy phân khu của địch. Sau hơn 3 giờ chiến đấu quyết liệt quân ta xóa sổ cứ điểm này, diệt và bắt toàn bộ gần 400 tên địch, trong đó có tên trung tá Ti-ri-ông (tirillon), chỉ huy trưởng phân khu, thu toàn bộ vũ khí quân trang quân dụng.
3 giờ sáng ngày 18/10, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiến công cứ điểm Nghĩa lộ phố. Địch điên cuồng chống cự. Sau 3 giờ đồng hồ chiến đấu, ta diệt và bắt toàn bộ khoảng 500 tên địch, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh khác trong đó có hai khẩu pháo 105 mm và hàng nghìn viên đạn.
Chỉ trong vòng 10 ngày quân ta giải phóng được một vùng rộng lớn bên tả ngạn sông Đà gồm các huyện Văn Chấn, Than Uyên (Yên Bái), Phù Yên và một phần huyện Quỳnh Nhai (Sơn la). Đến cuối tháng 12/1952 giải phóng phần lớn Tây Bắc (trừ cứ điểm Nà Sản và thị xã Lai Châu) diệt và bắt gọn hơn 6.000 tên địch.
Chiến thắng Tây Bắc có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những giải phóng một vùng chiến lược, phần lớn đồng bào Tây Bắc thoát khỏi ách thống trị của giặc Pháp mà còn xóa bỏ sự uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc từ phía Tây. Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp lập "sứ Thái tự trị" nhằm chia rẽ người Thái với người Kinh và với đồng bào các dân tộc thiểu số khác bị phá sản hoàn toàn, mở cánh cửa thép cho bộ đội ta tiến vào tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giải phóng Tây Bắc.
Để tôn vinh chiến thắng Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái đã xây dựng cụm tượng đài chiến thắng Nghĩa lộ trên đồi Pú Chạng ( nơi xưa kia là hệ thống đồn bốt thuộc đồn cao Pú Chạng của giặc Pháp). Là một phần trong cụm di tích lịch sử văn hóa Căng và Đồn Nghĩa lộ đã được Nhà Nước xếp hạng di tích cấp quốc gia. Vào ngày 18/10 hàng năm, trở thành ngày truyền thống, ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc của thị xã Nghĩa lộ và huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái ( nay là phường Nghĩa Lộ và xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai).
Thời hoa lửa Yên Bái là bản hùng ca bi tráng về tinh thần yêu nước, sự hi sinh kiên cường nơi núi sông hòa quyện máu xương của thế hệ cha ông, những thanh niên nông trường, lâm trường, cán bộ, chiến sĩ, du kích... đã đứng lên chống giặc, bảo vệ từng tấc đất quê hương, biến Yên Bái thành hậu phương vững chắc và chiến trường oanh liệt với những trận bom, tiếng súng vang vọng trên các đồn mường, thung lũng, để lại di sản về lòng dũng cảm và khát vọng hòa bình.



