Mẹ Việt Nam Anh hùng

"Càng hy sinh, càng cho đi đánh": Khúc tráng ca của người mẹ sáu lần tiễn con đi mãi mãi

Tái hiện cuộc đời huyền thoại của Mẹ Việt Nam Anh hùng Trương Thị Tư vùng đất Phú Hựu. Trải qua những giông bão khốc liệt nhất của cuộc chiến, người mẹ ấy đã nén nỗi đau mất chồng và 6 người con thân yêu vào lòng, biến dòng nước mắt chảy ngược thành ý chí sắt đá, bám trụ trận địa để nuôi giấu cán bộ và tiếp tục tiễn người con cuối cùng ra trận cho đến ngày toàn thắng.

Quảng Trị09/06/2026Chi đoàn 10 Anh 24 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Nước mắt mẹ không còn vì khóc những đứa con/ Lần lượt ra đi, đi mãi mãi...”. Mỗi khi những giai điệu da diết trong nhạc phẩm “Người mẹ của tôi” của cố nhạc sĩ Xuân Hồng cất lên, lồng ngực người nghe lại bồi hồi, thắt chặt. Đó không đơn thuần là những nốt nhạc, mà là bản hùng ca bằng lời ca tụng những tượng đài sống mang tên Mẹ Việt Nam Anh hùng. Giữa hàng triệu người mẹ vĩ đại trên dải đất chữ S, mẹ Trương Thị Tư ở vùng đất Phú Hựu, tỉnh Đồng Tháp chính là biểu tượng của lòng kiên trung, bất khuất — một người phụ nữ đã nén chặt giọt lệ riêng tư để hiến dâng những điều thiêng liêng, quý giá nhất cho nền độc lập của dân tộc.

Tìm về ấp Phú Thạnh, xã Phú Hựu hôm nay, hỏi thăm nhà mẹ Trương Thị Tư (bà con lối xóm vẫn trìu mến gọi là má Tư Sang), từ người già đến trẻ nhỏ ai ai cũng tường tận. Bởi lẽ, lòng công lao và sự hy sinh cao cả của gia đình má đối với sự nghiệp giải phóng quê hương đã ăn sâu vào tâm thức người dân nơi đây. Trong ngôi nhà ấm cúng, 5 Bằng Tổ quốc ghi công cùng hàng loạt Huân, Huy chương cao quý được treo trang trọng bên cạnh tấm bằng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng" — minh chứng cho sự tri ân sâu sắc của Đảng và Nhà nước trước công lao trời biển của một gia đình cách mạng.

Thắp nén nhang thơm lên bàn thờ tổ tiên, ông Phạm Tấn Thành (67 tuổi), người con trai út của má Tư, bùi ngùi nhớ lại: “Ba má tôi sinh được 10 người con. Ngày ấy, ba tham gia công an huyện, sau đó thoát ly hoàn toàn để công tác tại ban hậu cần tỉnh Vĩnh Long. Ở nhà, má vừa tích cực tham gia các phong trào du kích địa phương, vừa bí mật đào hầm công sự ngay quanh vườn nhà để nuôi chứa cán bộ bám trụ hoạt động. Biết ba tôi là cán bộ chủ chốt, bọn địch điên cuồng treo thưởng lớn hòng bắt sống hoặc tiêu diệt bằng được”.

Để chồng vững tâm chiến đấu nơi chiến trường, má Tư một mình tần tảo sớm hôm lo liệu việc đồng áng, một tay nuôi nấng đàn con thơ dại khôn lớn. Ông Thành tự hào chia sẻ: “Cứ hễ các anh chị tôi bước sang tuổi 15, 16, má lại động viên, tiễn họ đi kháng chiến với một khát vọng duy nhất: làm sao để quê hương sớm sạch bóng thù”. Khi được chi bộ tin tưởng giao trọng trách phụ trách thu thuế, quyên góp lúa gạo của nhân dân cho cách mạng, má đã khôn khéo bắt mối với các cơ sở mật để thu mua thuốc men, dụng cụ y tế, vải vóc, nilon, và đặc biệt là tổ chức chà lúa gạo tiếp tế cho chiến khu. Bọn mật thám đánh hơi thấy, liên tục bám đuôi theo dõi nhưng bằng sự mưu trí, má luôn vượt qua lưới bủa vây để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Bà Nguyễn Thị Pho (sinh năm 1958, ngụ cùng ấp Phú Thạnh) bồi hồi nhớ lại những ngày tháng thanh xuân khi mới 14 tuổi đã được theo chân má Tư đi xay gạo để mang đi tiếp tế cho bộ đội, khi thì gánh gạo, lúc lại giấu tiền. Bà Pho xúc động kể: “Má Tư luôn dặn dò tôi phải giữ cái đầu lạnh, thật bình tĩnh và ngụy trang khéo léo khi làm nhiệm vụ. Cứ tầm 10 ngày má lại mang lúa đi xay một lần. Bọn địch sinh nghi nên chặn đường kiểm tra, đe dọa dữ lắm, nhưng má cực kỳ bình tĩnh đáp trả thẳng thừng rằng nhà đông con nên phải xay nhiều gạo để ăn. Nghe vậy chúng đành bất lực thả đi”.

Trong ký ức của ông Nguyễn Văn Tư, một cựu chiến binh tại xã Phú Hựu, vùng đất này năm xưa từng là nơi địch bủa vây đồn bốt dày đặc, trận tuyến đan xen theo kiểu "ngày địch, đêm ta". Chiến sự xảy ra vô cùng tàn khốc, "nếu không có tấm lòng đùm bọc, chở che và sự tiếp tế kịp thời lương thực, thuốc men từ má Tư cùng những người dân kiên trung, anh em chiến sĩ chúng tôi khó lòng có thể bám trụ cơ sở để hoạt động cho đến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất", ông Tư khẳng định.

Không dừng lại ở đó, má Tư còn là hạt nhân tích cực trong các phong trào của Hội Phụ nữ xã như đấu tranh chống bắt lính, phá cầu đường cản bước tiến của địch. Có lần, má cùng chị em xung phong tham gia một cuộc đấu tranh chính trị quy mô lớn tại tỉnh Vĩnh Long và bị địch bắt bớ, áp giải sang Cần Thơ. Tại nhà lao, kẻ thù giở đủ mọi thủ đoạn hiểm độc, từ đem tiền tài ra dụ dỗ, mua chuộc cho đến tra tấn bạo tàn, uy hiếp tinh thần. “Không thể cạy răng má nửa lời, bọn địch tức tối vẽ hình cờ ba sọc lên nón lá rồi mới thả về. Không thèm nói một lời, vừa bước ra khỏi cổng lao, má cùng các dì đồng loạt ném phăng chiếc nón xuống đất. Địch cay cú đuổi theo bắt lại, vẽ tiếp cờ lên lưng áo, má và mọi người liền cởi phăng áo vứt bỏ tại chỗ, quyết không để kẻ thù đạt được mục đích đắc chí”, ông Thành tự hào kể về ý chí sắt đá của má.

Chiến tranh đồng nghĩa với đau thương và ly tán, nhưng đối với má Tư, những mất mát mà má phải gánh chịu dường như đã vượt quá sức chịu đựng của một người phụ nữ. Năm 1963, đất trời như sụp đổ dưới chân má khi nhận hung tin người con trai thứ sáu — anh Phạm Văn Vân, Trung đội phó cơ động tỉnh Vĩnh Long — đã anh dũng nằm lại chiến trường. Nỗi đau xé lòng của người mẹ mất con khi tuổi đời còn quá xanh, cộng thêm nỗi xót xa tột cùng vì không thể nhìn mặt con lần cuối như ngàn vạn nhát dao cứa thắt tâm can má. Thế nhưng, gạt đi dòng lệ nóng, má nén đau thương để tiếp tục làm điểm tựa tinh thần vững chãi, động viên các người con khác tiếp tục lên đường nối gót cha anh, quyết tâm trả nợ nước, thù nhà.

Nhưng bão táp chiến tranh vẫn chưa chịu buông tha người mẹ kiên cường ấy. Những năm 1969 - 1970, những tin dữ từ tiền tuyến liên tiếp dội về nhà như những luồng sét ngang tai: chồng má và bốn người con thân yêu của má đã lần lượt ngã xuống. Trong số những người ngã xuống ấy, có cả người con rể và người con gái thứ chín của má khi đang ở độ tuổi trăng tròn đẹp nhất. Vượt lên trên nỗi đau tột cùng của một người vợ mất chồng, một người mẹ mất đi những khúc ruột của mình, má Tư nuốt nước mắt vào trong. Đôi bàn tay gầy gộc của má nắm chặt lại với một quyết tâm sắt đá vang lên thành lời: “Càng hy sinh, càng cho đi đánh!”.

Đến năm 1973, người con trai thứ mười của má là anh Phạm Trung Dũng cũng mãi mãi nằm lại trên mảnh đất Ngãi Tứ. Lần này, nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí giao liên, má đã kịp có mặt để nhìn con lần cuối. Đứng trước linh cữu của con trai, người mẹ gầy gò với khuôn mặt hằn sâu những vết chân chim của cuộc đời bão táp đã không hề rơi một giọt nước mắt nào. Má lặng lẽ đưa bàn tay run run vuốt dọc khuôn mặt con, thì thầm: “Thôi, nhiệm vụ của con với Tổ quốc đã xong thì con cứ thanh thản ra đi. Má còn nợ nước nhiều lắm, má phải sống để tiếp tục lo cho cách mạng”.

Lời dặn dò gan góc, kiêu hùng ấy sau này đã được Thiếu tướng Phạm Phi Hùng, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Vĩnh Long thuật lại trong niềm xúc động nghẹn ngào. Và cũng chính trong năm định mệnh ấy, má lại tiếp tục tiễn đưa người con trai út Phạm Tấn Thành lên đường ra trận, chiến đấu kiên cường cho đến ngày non sông thu về một mối.

Để ghi nhận và tri ân những cống hiến, hy sinh vô bờ bến của má đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, ngày 17-12-1994, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho má Trương Thị Tư. Tháng 7-2012, trái tim của người mẹ anh hùng ngừng đập. Cuộc đời của má cùng sự hy sinh xương máu của gia đình đã trở thành một biểu tượng bất diệt, một huyền thoại sống về lòng yêu nước nồng nàn. Tấm gương kiên trung của má không chỉ là niềm tự hào của quê hương Phú Hựu, mà còn là ngọn đuốc truyền lửa mãnh liệt, thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống có lý tưởng, có trách nhiệm, quyết tâm dựng xây đất nước giàu mạnh để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh đi trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn